vanban.org

Bản án 37/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại cổ phần S.

Buộc bị đơn Bà Lý Thuỵ T có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương Mại cổ phần S số tiền vốn và lãi vay tính đến hết ngày 31 tháng 7 năm 2023 theo Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số: LD2007000486 ngày 10 tháng 3 năm 2020 tiền gốc vay và tiền lãi là: 35.122.535 đồng (ba mươi lăm triệu, một tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng thương mại cổ phần S và Lý Thuỵ T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại cổ phần S.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ TÚ
TỈNH SÓC TRĂNG
———————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2023/DS-ST
Ngày 31-7-2023
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đặng Duy Tân.

Ông Lê Hoàng Điệt.

- Thư ký phiên Tòa: Ông Lê Thanh Quốc là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú tham gia phiên Tòa: Bà Triệu Thị Mộng Lý – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 34/2023/TLST-DS ngày 19 tháng 4 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2023/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương Mại cổ phần S; Địa chỉ: Số 266-268 đường N, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Sĩ K- chức vụ: Nhân viên quản lý nợ trực thuộc Ngân hàng Thương Mại cổ phần S – Chi nhánh tỉnh Sóc Trăng; Địa chỉ: Số 30 đường T, Phường N, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (theo Giấy uỷ quyền số: 218/2023/GUQ-CNST ngày 03 tháng 7 năm 2023 (vắng mặt).

- Bị đơn: Bà Lý Thuỵ T; Địa chỉ: ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ngày 10 tháng 4 năm 2023, cũng như trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại cổ phần S Ông Nguyễn Sĩ Ktrình bày:

Bị đơn Bà Lý Thuỵ T có vay vốn tại Ngân hàng Thương Mại cổ phần S – Chi nhánh Sóc Trăng theo hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số: LD2007000486 ngày 10 tháng 3 năm 2020, cụ thể như sau: Số tiền vay: 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng); Thời hạn cho vay là 48 tháng; Mục đích sử dụng vốn: Tiêu dùng; Phương thức trả nợ: Trả 48 kỳ, mỗi kỳ trả 2.983.000 đồng, bắt đầu từ ngày 30 tháng 4 năm 2020, các kỳ trả nợ tiếp theo vào ngày cuối cùng của mỗi tháng, kỳ cuối trả số tiền 2.999.000 đồng vào ngày trả nợ cuối cùng của hợp đồng cho vay; Lãi suất: 10.8%/năm; Phương thức áp dụng và điều chỉnh lãi suất: Lãi suất được tính theo tổng dư nợ gốc ban đầu; Tài sản bảo đảm: Cho vay không có tài sản bảo đảm (tín chấp).

Quá trình thực hiện hợp đồng tại Ngân hàng Thương Mại cổ phần S thì bị đơn Bà Lý Thuỵ T đã nhiều lần vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng Thương Mại cổ phần S và nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại cổ phần S cũng đã nhiều lần nhắc nhở cũng như gửi thông báo nợ quá hạn cho bị đơn Bà Lý Thuỵ T nhưng tính đến hết ngày 31 tháng 7 năm 2023 thì bị đơn Bà Lý Thuỵ T thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại cổ phần S được tổng cộng tiền gốc và tiền lãi là: 101.422.000 đồng (trong đó: Tiền gốc vay là 70.822.000 đồng; Tiền lãi là 30.600.000 đồng).

Nay nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại cổ phần S yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bị đơn Bà Lý Thuỵ T phải thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại cổ phần S khoản tiền gốc vay và tiền lãi tính đến hết ngày 31 tháng 7 năm 2023 theo hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số: LD2007000486 ngày 10 tháng 3 năm 2020 là: 35.122.535 đồng (trong đó: tiền gốc vay: 29.178.000 đồng; tiền lãi trong hạn: 5.400.000 đồng; lãi quá hạn: 544.535 đồng) và yêu cầu bị đơn Bà Lý Thuỵ T tiếp tục chịu lãi suất quá hạn, các loại phí phát sinh theo quy định của pháp luật từ ngày khởi kiện cho đến khi tất toán xong khoản vay theo hợp đồng cho Ngân hàng Thương Mại cổ phần S.

Đối với bị đơn Bà Lý Thuỵ T sau khi Tòa án thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án hợp lệ cho bị đơn Bà Lý Thuỵ T nhưng bị đơn Bà Lý Thuỵ T không có văn bản trả lời cho Tòa án. Sau đó, Tòa án có gửi thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vụ án hai (02) lần nhưng bị đơn Bà Lý Thuỵ T vẫn không tham gia.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại cổ phần S, buộc bị đơn Bà Lý Thuỵ T phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương Mại cổ phần S đến hết ngày 31 tháng 7 năm 2023 là: 35.122.535 đồng (trong đó: tiền gốc vay: 29.178.000 đồng; tiền lãi trong hạn: 5.400.000 đồng; lãi quá hạn: 544.535 đồng) và tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa trả từ ngày 01 tháng 8 năm 2023 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về sự có mặt, vắng mặt của các đương sự: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại cổ phần S ông Nguyễn Sĩ K vắng mặt (có đơn xét xử vắng mặt); bị đơn Bà Lý Thuỵ T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về thủ tục thụ lý việc khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại cổ phần S: Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng nhận được đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại cổ phần S cùng tài liệu, chứng cứ kèm theo do nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại cổ phần S nộp trực tiếp tại Tòa án. Ngay sau khi nhận được đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án thực hiện thủ tục nhận, xử lý đơn khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại cổ phần S và thụ lý vụ án đúng quy định tại Điều 191 và Điều 195 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại cổ phần S khởi kiện yêu cầu bị đơn Bà Lý Thuỵ T trả số tiền vay tính đến hết ngày 31 tháng 7 năm 2023 theo hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số: LD2007000486 ngày 10 tháng 3 năm 2020 thì bị đơn Bà Lý Thuỵ T còn nợ số tiền gốc và tiền lãi là 35.122.535 đồng (trong đó: tiền gốc vay: 29.178.000 đồng; tiền lãi trong hạn: 5.400.000 đồng; lãi quá hạn: 544.535 đồng) và tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa trả từ ngày 01 tháng 8 năm 2023 cho đến khi trả tất nợ vay theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng. Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp dân sự, quan hệ pháp luật để giải quyết là tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn Bà Lý Thuỵ T, có địa chỉ tại ấp Tam Sóc C2, xã Mỹ Thuận, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại cổ phần S. Hội đồng xét xử thấy rằng theo hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số: LD2007000486 ngày 10 tháng 3 năm 2020, cụ thể như sau: Số tiền vay: 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng); Thời hạn cho vay là 48 tháng; Mục đích sử dụng vốn: Tiêu dùng; Phương thức trả nợ: Trả 48 kỳ, mỗi kỳ trả 2.983.000 đồng, bắt đầu từ ngày 30 tháng 4 năm 2020, các kỳ trả nợ tiếp theo vào ngày cuối cùng của mỗi tháng, kỳ cuối trả số tiền 2.999.000 đồng vào ngày trả nợ cuối cùng của hợp đồng cho vay; Lãi suất: 10.8%/năm; Phương thức áp dụng và điều chỉnh lãi suất: Lãi suất được tính theo tổng dư nợ gốc ban đầu; Tài sản bảo đảm: Cho vay không có tài sản bảo đảm (tín chấp). Nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại cổ phần S cung cấp được cho Tòa án hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số: LD2007000486 ngày 10 tháng 3 năm 2020 đều có chữ ký, chữ viết của bị đơn Bà Lý Thuỵ T.

Sau khi ký kết hợp đồng, đối với hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số: LD2007000486 ngày 10 tháng 3 năm 2020, bị đơn Bà Lý Thuỵ T đã nhận đủ số tiền 100.000.000 đồng tại Ngân hàng Thương Mại cổ phần S – Chi nhánh tỉnh Sóc Trăng. Sau khi vay vốn thì bị đơn Bà Lý Thuỵ T đã thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại cổ phần S được tiền gốc và tiền lãi tổng cộng là: 101.422.000 đồng (trong đó: Tiền gốc vay là 70.822.000 đồng; Tiền lãi là 30.600.000 đồng).

Như vậy, có căn cứ xác định bị đơn Bà Lý Thuỵ T có giao kết hợp đồng với nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại cổ phần S để vay số tiền 100.000.000 đồng theo hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số: LD2007000486 ngày 10 tháng 3 năm 2020. Các bên tiến hành giao kết hợp đồng trên nguyên tắc tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng tại thời điểm xác lập phù hợp với quy định của pháp luật, lãi suất các bên thỏa thuận phù hợp với với quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Do đó, hợp đồng trên có giá trị pháp lý và buộc các bên phải thực hiện theo đúng hợp đồng. Tuy nhiên, sau khi vay bị đơn Bà Lý Thuỵ T đã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo đúng cam kết. Tính đến hết ngày 31 tháng 7 năm 2023 đối với hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số: LD2007000486 ngày 10 tháng 3 năm 2020 thì bị đơn Bà Lý Thuỵ T trả được tiền gốc và tiền lãi 101.422.000 đồng, như vậy bị đơn Bà Lý Thuỵ T không thực hiện việc trả vốn và lãi đúng theo thỏa thuận nên đã vi phạm tại Điều 4; Điều 5 và Điều 7 của hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số: LD2007000486 ngày 10 tháng 3 năm 2020.

Hiện nay, bị đơn Bà Lý Thuỵ T còn nợ của nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại cổ phần S tiền gốc và tiền lãi vay tính đến hết ngày 31 tháng 7 năm 2023 đối với hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số: LD2007000486 ngày 10 tháng 3 năm 2020, tổng cộng là: 35.122.535 đồng (trong đó: tiền gốc vay: 29.178.000 đồng; tiền lãi trong hạn: 5.400.000 đồng; lãi quá hạn: 544.535 đồng). Xét thấy, bị đơn Bà Lý Thuỵ T đã nhận tiền gốc vay của Ngân hàng Thương Mại cổ phần S số tiền là 100.000.000 đồng nhưng không thực hiện nghĩa vụ trả tiền vốn và lãi theo thỏa thuận. Tính đến hết ngày 31 tháng 7 năm 2023 bị đơn Bà Lý Thuỵ T thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại cổ phần S tiền gốc vay được 70.822.000 đồng, còn nợ lại tiền gốc 29.178.000 đồng là vi phạm vào Điều 4 “Thu nợ, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, chuyển nợ quá hạn, xử lý nợ” theo Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số: LD2007000486 ngày 10 tháng 3 năm 2020 giữa nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại cổ phần S và bị đơn Bà Lý Thuỵ T đã ký kết. Vì vậy, cần buộc bị đơn Bà Lý Thuỵ T phải trả cho nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại cổ phần S số tiền gốc vay còn lại 29.178.000 đồng là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về lãi suất: Ngân hàng Thương Mại cổ phần S yêu cầu tính lãi suất trong hạn 10.8%/năm, lãi quá hạn 16.20%/năm. Xét thấy, mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng là phù hợp với quy định của quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Do đó yêu cầu tính lãi của nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại cổ phần S là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Cụ thể nợ lãi tính đến hết ngày 31 tháng 7 năm 2023 là 5.944.535 đồng (trong đó: tiền lãi trong hạn: 5.400.000 đồng; lãi quá hạn: 544.535 đồng).

Như vậy, tổng số tiền vốn và tiền lãi vay mà bị đơn Bà Lý Thuỵ T phải có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại cổ phần S là: 35.122.535 đồng (trong đó: tiền gốc vay: 29.178.000 đồng; tiền lãi trong hạn: 5.400.000 đồng; lãi quá hạn: 544.535 đồng).

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại cổ phần S được chấp nhận nên bị đơn Bà Lý Thuỵ T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 63; khoản 1 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 463; Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015

Căn cứ Điều 91; Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại cổ phần S.

Buộc bị đơn Bà Lý Thuỵ T có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương Mại cổ phần S số tiền vốn và lãi vay tính đến hết ngày 31 tháng 7 năm 2023 theo Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số: LD2007000486 ngày 10 tháng 3 năm 2020 tiền gốc vay và tiền lãi là: 35.122.535 đồng (ba mươi lăm triệu, một trăm hai mươi hai nghìn, năm trăm ba mươi lăm đồng), cụ thể: tiền gốc vay: 29.178.000 đồng (hai mươi chín triệu, một trăm bảy mươi tám nghìn); tiền lãi trong hạn: 5.400.000 đồng (năm triệu, bốn trăm nghìn); lãi quá hạn: 544.535 đồng (năm trăm bốn mươi bốn nghìn, năm trăm ba mươi lăm đồng).

Kể từ ngày 01 tháng 8 năm 2023 bị đơn Bà Lý Thuỵ T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn 16.20%/năm của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất đã thoả thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thoả thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ thì lãi suất bị đơn Bà Lý Thuỵ T phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Thương Mại cổ phần S cũng được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất Ngân hàng Thương Mại cổ phần S.

3. Án phí dân sự sơ thẩm: bị đơn Bà Lý Thuỵ T phải chịu án phí số tiền 1.756.127 đồng (một triệu, bảy trăm năm mươi sáu nghìn, một trăm hai mươi bảy đồng).

Ngân hàng Thương Mại cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương Mại cổ phần S số tiền án phí đã nộp là 783.463 đồng (bảy trăm tám mươi ba nghìn, bốn trăm sáu mươi ba đồng) theo biên lai thu số 0005395 ngày 18 tháng 4 năm 2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.

4. Nguyên đơn; bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án Dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án Dân sự năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án Dân sự năm 2014.

Cỡ chữ