vanban.org

Bản án 37/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 09/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Tuyên bố bị cáo Lường Văn Ph phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lường Văn Ph 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 04/01/2022 đến ngày 05/01/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn Ph - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? * Tuyên bố bị cáo Lường Văn Ph phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC KẠN
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2022/HSST
Ngày: 09/5/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN – TỈNH BẮC KẠN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Dương.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Vi Thị Ngọc Diệp.

2. Ông Vũ Anh Đức.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sơn – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Chung - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2022, tại hội trường xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2022/HSST ngày 14/3/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2022/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:

Lƣờng Văn Ph (tên gọi khác: Không), sinh ngày 08 tháng 6 năm 1972 tại tỉnh B; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã C, huyện B1, tỉnh B; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Văn Ph1 (đã chết) và bà Mông Thị Nh; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án hình sự số 38/2011/HSST, ngày 27/10/2011 của Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn đã xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2022 đến ngày 05/01/2022, hiện nay đang tại ngoại. Có mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Lường Văn B, sinh năm 1970. Trú tại: Thôn N, xã C, huyện B1, tỉnh B. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 04/01/2022, tại tổ L phường H, thành phố B1, tỉnh B, Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Ma túy Công an thành phố B2 phát hiện, bắt quả tang Lường Văn Ph có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Kết quả kiểm tra đã phát hiện và tạm giữ: Trong lòng bàn tay trái của Lường Văn Ph 01 (một) gói được gói bằng giấy trắng có in chữ màu đen, bên trong có chứa chất bột màu trắng (niêm phong trong phong bì ký hiệu P1); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG vỏ màu đen đã qua sử dụng; 01 (một) xe môtô nhãn hiệu DRAMA, màu sơn xanh, biển kiểm soát 97F4-20xx cùng chìa khóa xe.

Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B2 đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lường Văn Ph tại thôn Nà Ngăm, xã C, huyện Bạ1, tỉnh B. Kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài sản gì liên quan đến ma túy.

Lường Văn Ph khai nhận: Số chất bột màu trắng được gói bằng giấy trắng có in chữ màu đen cơ quan công an đã thu giữ tại lòng bàn tay trái của Ph là ma túy, loại Heroine của Ph tàng trữ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Về nguồn gốc số ma túy Lường Văn Ph khai: Khoảng 10 giờ ngày 04/01/2022, Ph điều khiển xe môtô biển kiểm soát 97F4-20xx đi từ nhà đến Cơ sở điều trị Methadone thuộc tổ 9, phường Ng, thành phố B2, tỉnh B để uống thuốc Methadone. Sau khi uống thuốc xong, Ph nảy sinh ý định đi tìm mua ma túy về sử dụng. Ph điều khiển xe đi đến khu vực cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh B thuộc tổ 12, phường Ng, thành phố B2, tỉnh B để tìm mua ma túy, tại đây Ph đã gặp một người đàn ông không quen biết, qua nói chuyện Ph biết người đàn ông này có ma túy bán nên đã hỏi mua 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) ma túy loại Heroine thì được người đàn ông này đồng ý bán và đưa cho 01 gói ma túy. Sau khi mua được ma túy, Phương cất giấu ma túy trong lòng bàn tay trái và điều khiển xe đi về nhà, khi đi đến tổ L, phường H, thành phố B2 thì bị tổ công tác Công an thành phố B2 bắt quả tang và thu giữ số ma túy cùng một số đồ vật, tài sản khác.

Tiến hành cân riêng số chất bột màu trắng thu giữ của Lường Văn Ph trong phong bì ký hiệu P1 có khối lượng là 0,26g (không phẩy hai sáu gam). Sau khi cân xác định khối lượng, toàn bộ số chất bột màu trắng nêu trên được niêm phong trong phong bì ký hiệu A1 gửi trưng cầu giám định chất ma túy

Tại kết luận giám định số 26/KTHS-MT ngày 11/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là: 0,26g (không phẩy hai sáu gam)”.

Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKSTP ngày 14/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố đối với Lường Văn Phương về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều luật có nội dung:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

......

c) Heroine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

......

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Tại phiên tòa:

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lường Văn Ph phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 04/01/2022 đến ngày 05/01/2022.

Hình phạt bổ sung đề nghị không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ký hiệu T26, 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ký hiệu A2. Trả lại cho bị cáo: 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG vỏ màu đen đã qua sử dụng bên trong điện thoại có lắp 01 (một) sim điện thoại số thuê bao 03822414xx.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

* Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo là không oan, đúng người, đúng tội và xin hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi bị truy tố của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo thống nhất với các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có cơ sở khẳng định:

Khoảng 11 giờ ngày 04/01/2022, tại tổ L, phường H, thành phố B2, tỉnh B, Tổ công tác thuộc đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Ma túy Công an thành phố Bắc Kạn bắt quả tang đối với Lường Văn Ph đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,26g (không phẩy hai sáu gam) ma túy loại Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do vậy, việc truy tố, xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương, vì vậy cần phải xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu. Tại bản án hình sự số 38/2011/HSST, ngày 27/10/2011 của Tòa án nhân dân huyện B1, tỉnh B đã xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, có bố mẹ đẻ được tặng Huân chương kháng chiến nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.

* Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, thu nhập ổn định, thuộc diện hộ cận nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung "Phạt tiền” theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- 01 (một) xe môtô nhãn hiệu nhãn hiệu DRAMA, biển kiểm soát 97F4-20xx cùng 01 (một) chìa khóa xe. Quá trình điều tra đã xác định chiếc xe là tài sản của ông Lường Văn B. Việc bị cáo sử dụng chiếc xe vào việc đi mua ma túy ông B không biết. Do vậy, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe, chìa khóa xe cho ông B là đúng quy định của pháp luật.

- 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ký hiệu T26 và dòng chữ “Vụ: Lường Văn Ph (1972) tàng trữ trái phép chất ma túy”. Mặt sau phong bì có 04 (bốn) chữ ký niêm phong không đọc được và 02 (hai) dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn; 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ký hiệu A2 và dòng chữ “Phong bì và giấy gói cũ lưu hồ sơ vụ án”. Mặt sau phong bì có 06 (sáu) chữ ký niêm phong không đọc được, 01 (một) chữ ký tên “Phương”, 01 (một) dòng chữ Lường Văn Ph và 02 (hai) dấu tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thành phố B2. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn. Tất cả không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG vỏ màu đen đã qua sử dụng. Số EMEI 1: 354803113309123, số EMEI 2: 354804113309121. Bên trong điện thoại có lắp 01 (một) sim điện thoại số thuê bao 03822414x. Là tài sản của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

* Trong vụ án này còn có người đàn ông đã bán ma túy cho Lường Văn Ph, do Ph không biết họ tên, địa chỉ cụ thể nên cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xác minh, làm rõ.

* Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo và có đơn xin miễm tiền án phí theo quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

* Tuyên bố bị cáo Lường Văn Ph phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lường Văn Ph 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 04/01/2022 đến ngày 05/01/2022.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ký hiệu T26 và dòng chữ “Vụ: Lường Văn Ph (1972) tàng trữ trái phép chất ma túy”. Mặt sau phong bì có 04 (bốn) chữ ký niêm phong không đọc được và 02 (hai) dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn; 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ký hiệu A2 và dòng chữ “Phong bì và giấy gói cũ lưu hồ sơ vụ án”. Mặt sau phong bì có 06 (sáu) chữ ký niêm phong không đọc được, 01 (một) chữ ký tên “Phương”, 01 (một) dòng chữ Lường Văn Ph và 02 (hai) dấu tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thành phố Bắc Kạn. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn;

- Trả lại cho bị cáo: 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG vỏ màu đen đã qua sử dụng. Số EMEI 1: 354803113309123, số EMEI 2: 354804113309121. Bên trong điện thoại có lắp 01 (một) sim điện thoại số thuê bao 03822414xx.

Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận giữa Công an thành phố Bắc Kạn và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn.

* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 12, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễm tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lường Văn Ph.

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ