- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Bá N tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Bá N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2022/HS-ST Ngày 14 tháng 4 năm 2022 |
NHÂN DANH
N ỚC CỘNG HO
HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TO N NH N D N TH NH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan
Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Vũ Hùng Tuấn
2. Bà Lưu Thị Kim Thanh
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Tuấn Linh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 43/2022/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2022/ HSST-QĐ ngày 12 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo: Họ và tên: Phạm Bá N; sinh năm 1988; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: khu 4, xã T, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Phạm Bá Q (đã chết) và bà Nguyễn Thị L; Vợ: Trần Thị Đ; Con: Con lớn sinh năm 2010; Con nhỏ sinh năm 2013; Tiền sự: Không; Tiền án: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/12/2021 đến ngày 28/12/2021 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại khu 4, xã T, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 20 phút ngày 20/12/2021, tổ công tác Công an phường N, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đang làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 16A, khu 2A, phường N, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ phát hiện một nam thanh niên có biểu hiện vi phạm pháp luật, tổ công tác yêu cầu kiểm tra nam thanh niên khai nhận họ tên là Phạm Bá N, sinh ngày 10/3/1988, trú tại khu 4, xã T, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đồng thời N tự giác giao nộp cho cơ quan công an 01 gói giấy mặt ngoài và mặt trong đều màu trắng, bên trong có chứa chất bột cục màu trắng được để trong 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu WHITE HOUSE. N khai nhận đây là gói ma túy Heroin của N mục đích để sử dụng cho bản thân. Tại chỗ, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với N, thu giữ và niêm phong gói ma tuý có đặc điểm như trên theo đúng quy định của pháp luật. Ngoài ra còn thu giữ đồ vật, tài sản có liên quan của N gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh đen số IMEI 1 860163041918132, IMEI 2 860163041918124, kèm sim số 0368345260 máy cũ đã qua sử dụng; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu WHITE HOUSE, 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long; số tiền VNĐ 500.000 đồng.
Ngày 20/12/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ ra Quyết định trưng cầu giám định đối với chất bột, cục màu trắng thu giữ của Phạm Bá N. Tại bản Kết luận giám định số 34/KLGĐ ngày 27/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ kết luận:
“Chất bột, cục màu trắng chứa trong 01 gói giấy có hai mặt đều màu trắng trong bì niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,225 gam, loại Heroine”.
Hoàn lại 0,182 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong trong 01 bì giấy bên ngoài được đóng 05 hình dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh phú thọ và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong tại các mép dán.
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ khi bắt quả tang, N khai nhận:
Phạm Bá N có mối quan hệ quen biết, sống cùng khu với Nguyễn Văn D, sinh năm 1978, HKTT: Khu 4, xã T, Việt Trì, Phú Thọ. Ngày 17/12/2021, N có gặp Dũng ngoài đường gần nhà, biết N nghiện ma túy nên Dũng có giới thiệu và cho N số điện thoại của Huấn để nếu N có nhu cầu mua ma túy sử dụng thì liên hệ. Khoảng 08 giờ 35 phút ngày 20/12/2021, do có nhu cầu sử dụng ma tuý, N nhắn tin từ số điện thoại 036834526 của N đến số điện thoại 0323064903 của Huấn với nội dung: “500k anh nhé” (nghĩa là N hỏi mua của Huấn 500.000 đồng tiền ma túy Heroine), Huấn nhắn lại “ok”. Sau đó, N gọi điện cho Huấn hỏi ma túy thì Huấn nói có 01 (một) gói ma túy trong vỏ bao thuốc lá WHITE HOUSE màu vàng đồng để trong ống nước gắn ở bờ tường của Bệnh viện mắt tỉnh Phú Thọ thuộc phường N, thành phố Việt Trì. Huấn bảo N đến vị trí trên lấy gói ma túy và để tiền vào ống nước đó, Huấn sẽ đến lấy tiền sau.N đi bộ đến vị trí cất dấu gói ma túy theo như lời chỉ dẫn của Huấn trước đó. Đến nơi, N lấy trong ống nước 01 bao thuốc lá nhãn hiệu WHITE HOUSE bên trong có 01 (một) gói giấy mặt ngoài và mặt trong đều màu trắng bên trong có chứa chất bột cục màu trắng, xác định đúng là gói ma túy cần mua N để 500.000 đồng tiền mua ma túy vào trong vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng (do N mang sẵn) sau đó N để vỏ bao thuốc lá này vào trong ống nước trên bờ tường của Bệnh viện mắt. Khi N cầm bao thuốc lá có chứa gói ma túy vừa mua được đi tìm nơi sử dụng thì bị Tổ công tác - Công an phường Nông Trang, thành phố Việt Trì phát hiện, kiểm tra và bắt quả tang đối với N về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như đã nêu trên. Quá trình kiểm tra, N đã tự giác giao nộp gói ma túy có đặc điểm như trên.
Căn cứ lời khai của N, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành triệu tập Nguyễn Văn D lấy lời khai, tiến hành đối chất giữa Phạm Bá N và Nguyễn Văn Dũng, tuy nhiên D không thừa nhận quen biết H và không cung cấp số điện thoại của Huấn cho N như lời khai nhận của N.
Về điều kiện kinh tế của bị cáo, Cơ quan điều tra xác định: Ngoài đồ dùng sinh hoạt cá nhân và tài sản là chiếc điện thoại di động, số tiền 500.000 đồng bị thu giữ thì bị can Phạm Bá N không có tài sản riêng gì có giá trị.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Bá N đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Bá N không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định của Phòng kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ.
Tại Cáo trạng số 34/CT-VKS-VT ngày 25/3/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Phạm Bá N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Phạm Bá N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm a,c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Xử phạt bị cáo Phạm Bá N từ 15 (Mười lăm tháng) đến 18 (Mười tám tháng) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 20/12/2021 đến ngày 28/12/2021
Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng cho bị cáo
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 bì giấy niêm phong số: 34/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ bên trong có 0,182 gam chất bột, cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau khi giám định và bao gói gửi đến giám định; 01 sim số 0368345260, 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu WHITE HOUSE và 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước của bị cáo Phạm Bá N:
- 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh đen số IMEI 1 860163041918132, IMEI 2 860163041918124.
(Theo Biên lai thu tiền số 0006786 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì ngày 28/3/2022 và biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/3/2022).
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Phạm Bá N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Bá N đồng ý với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
Tại phiên tòa bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Việt Trì, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi cấu thành tội phạm của bị cáo:
Hồi 10 giờ 20 phút ngày 20/12/2021 tại tổ 16A, khu 2A, phường N, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, bị cáo Phạm Bá N có hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 0,225 gam Heroine nhằm mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác của Công an phường Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự thì “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) …; b) …; c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam …”
Như vậy hành vi tàng trữ 0,225 gam Heroine nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân của bị cáo Phạm Bá N đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
. Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, thể hiện sự coi thường pháp luật, gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân và ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với mức độ phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội và đáp ứng yều cầu đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy. Tuy nhiên trước khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như sau:
Xét về nhân thân: Bị cáo Phạm Bá N nhân thân không có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo được hưởng tình tiết giảm trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự là bố đẻ bị cáo là người có công với cách mạng được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo không có tài sản riêng gì có giá trị vì vậy miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
. Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh đen số IMEI 1 860163041918132, IMEI 2 860163041918124 là của N sử dụng để liên lạc hàng ngày và trao đổi mua ma túy ngày 20/12/2021 vì vậy căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với số tiền 500.000 đồng thu giữ của N khi Cơ quan công an bắt quả tang đối với N xét thấy đây là tiền bị cáo sử dụng để mua ma túy nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với 01 bì giấy niêm phong số: 34/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ bên trong có 0,182 gam chất bột, cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau khi giám định và bao gói gửi đến giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành, tàng trữ vì vậy căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
Đối với sim số 0368345260 trong điện thoại thu giữ của bị cáo N, 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu WHITE HOUSE và 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long là vật chứng không có giá trị căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đối với người đàn ông tên H đã bán ma túy cho N vào ngày 20/12/2021, N không biết họ, tên và địa chỉ cụ thể. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành ủy thác điều tra, xác minh số thuê bao 0328 064 903 mà H sử dụng để liên lạc bán ma túy cho N thì số điện thoại trên lại là của chị Nguyễn Thị Hồng P, sinh năm 1978, HKTT: P, Đ, huyện An Phú, tỉnh An Giang. Chị P xác nhận không đăng ký số sim điện thoại trên và không cho ai mượn chứng minh nhân dân để sử dụng số sim trên, chị cũng không quen biết người đàn ông nào tên là H nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để làm rõ, xử lý đối với người đàn ông bán ma túy cho N.
Đối với Nguyễn Văn D: Căn cứ lời khai của N, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành triệu tập Nguyễn Văn D lấy lời khai, tiến hành đối chất giữa Phạm Bá N và Nguyễn Văn D, tuy nhiên Dkhông thừa nhận quen biết Huấn và không cung cấp số điện thoại của H cho N như lời khai nhận của N vì vậy chưa đủ căn cứ để xử lý D
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm a,c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tuyên bố bị cáo Phạm Bá N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Phạm Bá N 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 20/12/2021 đến ngày 28/12/2021
Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng cho bị cáo
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 bì giấy niêm phong số: 34/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ bên trong có 0,182 gam chất bột, cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau khi giám định và bao gói gửi đến giám định; 01 sim số 0368345260; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu WHITE HOUSE và 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước của bị cáo Phạm Bá N:
- Số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh đen số IMEI 1 860163041918132, IMEI 2 860163041918124.
(Theo Biên lai thu tiền số 0006786 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì ngày 28/3/2022 và biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/3/2022).
Về án phí hình sự sơ thẩm:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Phạm Bá N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Phú Thọ; - Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ; - Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ; - VKSND thành phố Việt Trì; - Công an thành phố Việt Trì; - Chi cục THADS thành phố Việt Trì; - UBND xã T, Tp Việt Trì; - Bị cáo; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Ngọc Lan |