vanban.org

Bản án 37/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau Tuyên án 22/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Ngô Hùng P phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt: Bị cáo Phạm Ngô Hùng P 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ 21/02/2022. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa, đổi bổ sung năm 2017); khoản 1, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Ngô Hùng P bị viện kiểm sát tru tố tội tàng trử trái phép chất ma túy theo quy định khoản 1 Điều 249 - phạm tội tàng trữ trái phép chất…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Ngô Hùng P phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2022/HS-ST
Ngày 22 - 6 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Len

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Việt Thắng

2. Ông Huỳnh Văn Năm

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Tuyết Ngân - Là Thư ký viên, Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tham gia phiên tòa: Ông Võ Quốc Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời tỉnh Cà Mau, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2022/TLST-HS, ngày 31 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2022, đối với bị cáo:

Phạm Ngô Hùng P, sinh ngày 24/02/1999, giới tính: Nam

Nơi cư trú: Khóm 7, thị trấn T, huyện T, tỉnh C; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Phạm Việt B và bà: Nguyễn Hồng D; Vợ: Không; Anh chị em gồm có: 01 người (sinh năm 2002); Tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giữ (trong trường hợp bắt quả tang) ngày 21/02/2022, sau đó khởi tố chuyển sang tạm giam cho đến nay (Bị cáo có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 21 giờ 20 phút, ngày 21/02/2022 lực lượng Công an xã L phát hiện bất quả tang Phạm Ngô Hùng P tại ấp C, xã L, huyện T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua kiểm tra, thu giữ một bịch ni lon màu trắng có 02 quai sách bên trong 01 bịch ni lon màu trắng có viên đỏ Phi khai là ma túy.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 21/02/2022, Phạm Ngô Hùng P điều khiển xe mô tô từ thị trấn T đến phòng số 12, nhà nghỉ MT, thuộc ấp L, xã H, huyện C, tỉnh C gặp Đ và một người thanh niên đi cùng Đ (không xác định được nhân thân lai lịch) để sử dụng trái phép chất ma tuý. Tại đây, Đ lấy bịch ma tuý và dụng cụ sử dụng ma tuý ra để cùng sử dụng với P, phần ma tuý còn lại và dụng cụ sử dụng ma tuý Đ bỏ trong bọc có quai sách. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, thì tất cả rời khỏi nhà nghỉ MT, khi đi được khoảng 100m thì Đ cho P bọc quai sách có đựng bịch ma tuý vừa sử dụng còn lại và dụng cụ sử dụng ma tuý để P đem về sử dụng, P nhận lấy bọc quai sách có đựng ma tuý này cầm trên tay. Sau đó, Đ điều khiển xe chở P và người thanh niên đi cùng Đ trên một xe mô tô về thị trấn T. Khi đến đoạn lộ thuộc ấp C, xã L, huyện T, P đang cầm bọc nilon bên trong có ma tuý và dụng cụ sử dụng ma tuý trên tay thì phát hiện lực lượng Công an xã L đang tuần tra nên P bỏ bịch ma tuý và dụng cụ sử dụng ma tuý xuống lộ rồi qua cầu thu phí. Khi đến dốc cầu, P xuống xe chạy bộ ngược lại để lấy bịch quai sách có đựng ma tuý mà P vừa bỏ xuống lộ thì bị lực lượng Công an xã L bắt quả tang

Vật chứng thu giữ: 01 bịch nilon màu trắng có 02 quai sách bên trong có: 01 bịch ni lon màu trắng có viền đỏ bóp kính miệng, bên trong có chứa toàn bộ trọng lượng ma túy đã nêu trên; 05 đoạn ống hút bằng nhựa có màu xanh, trắng, vàng, cam; 01 cây nỏ làm bằng thủy tinh; 02 mảnh giấy bạc; 01 nấp chai nhựa màu đen có 02 lỗ tròn. P khai nhận đây là bịch ma tuý và dụng cụ sử dụng ma tuý của P do Đ vừa cho P đem về sử dụng. Ngoài ra còn thu giữ của P 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh, loại 02 sim; sim 01 số 0939288808, sim 02 số 0765237448. Kết quả test nhanh thể hiện Phạm Ngô Hùng P có sử dụng trái phép chất ma tuý.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 áo sơ mi dài tay màu xanh đen, cổ áo có chữ T.Men; 01 quần dài, loại vãi màu đen, vùng gối phải bị rách, lưng quần phía sau bên phải có tem màu xanh, đỏ.

Tại bản Kết luận giám định số 37/GĐH-PC09 ngày 24/02/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh C, kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong bọc nilon màu trắng được bóp kín miệng, niêm phong trong túi niêm phong thu giữ của Phạm Ngô Hùng P nêu trên gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,7803 gam, loại Methamphetamine.

Tại Cáo trạng số: 31/CT-VKS ngày 27/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo Phạm Ngô Hùng P về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo bị cáo Phạm Ngô Hùng P về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa, đổi bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Phạm Ngô Hùng P từ 12 tháng đến 18 tháng tù.

Ngoài ra, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử vật chứng:

Đối 01 phong bì được niêm phong ghi số 37/GĐH-PC09 ngày 24/02/2022; 01 bịch nilon màu trắng có 02 quai sách, 05 đoạn ống hút bằng nhựa có màu xanh, trắng, vàng, cam; 01 cây nỏ làm bằng thủy tinh; 02 mảnh giấy bạc; 01 nấp chai nhựa màu đen có 02 lỗ tròn; 01 áo sơ mi dài tay màu xanh đen, cổ áo có chữ T.Men; 01 quần dài, loại vãi màu đen, vùng gối phải bị rách, lưng quần phía sau bên phải có tem màu xanh, đỏ bị cáo không yêu cầu nhận lại và không có giá trị, không sử dụng được cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh, loại 02 sim; sim 01 số 0939288808, sim 02 số 0765237448 tịch thu sung vào công quỹ nhà nước theo quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Đối với bị cáo: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không tranh luận gì đối với đại diện viện kiểm sát; bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội, yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo Phạm Ngô Hùng P tại phiên tòa hôm nay thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu khác phản ánh trong hồ sơ vụ án thấy đủ cơ sở để chứng minh: Vào lúc 21 giờ 20 phút ngày 21/02/2022 tại ấp C, huyện T, tỉnh C Phạm Ngô Hùng P đã tàng trữ trái phép ma túy có tổng khối lượng 0,7803 gram, loại Methamphetamine. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy được Bộ luật hình sự quy định. Mặc dù bị cáo biết rõ tác hại của ma túy nhưng bị cáo vẫn tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi hình sự. Do đó hành vi phạm tội của bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tính chất, mức độ, hậu quả thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra:

Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình và xã hội nhưng bị cáo xem thường pháp luật, vẫn lao vào con đường phạm tội, gây ảnh hưỡng xấu đến tình hình an ninh chính trị và trật tự xã hội ở địa phương. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, cần phải bị xử lý nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian theo đề nghị của Viện kiểm sát là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo P thành khẩn khai báo nên khi áp dụng hình phạt cần căn cứ vào điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay, thấy rằng các bị cáo là người làm thuê, thu nhập không ổn định và cũng không có tài sản gì có giá trị, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

Về vật chứng của vụ án: Đối 01 phong bì hoàn mẫu niêm phong ghi số 37/GĐH-PC09 ngày 24/02/2022; 01 bịch nilon màu trắng có hai quai sách, 05 đoạn ống hút bằng nhựa có màu xanh, trắng, vàng, cam; 01 cây nỏ làm bằng thủy tinh; 02 mảnh giấy bạc; 01 nắp chai nhựa màu đen có 02 lỗ tròn; Đối với 01 áo sơ mi dài tay màu xanh đen, cổ áo có chữ T.Men, 01 quần dài, loại vãi màu đen, vùng gối phải bị rách, lưng quần phía sau bên phải có tem màu xanh, đỏ bị cáo không yêu cầu nhận lại và không có giá trị, không sử dụng được cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đốivới01điệnthoạidiđộnghiệuOppomàuxanh,loại02sim;sim01số0939.288.808, sim 02 số 0765.237.448 tịch thu sung vào công quỹ nhà nước theo quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với Đặng Trung B là chủ thuê bao 0948.159.519 gọi vào số máy của P và nói “Đ rủ qua nhà nghĩ MT để sử dụng ma tuy”. Quá trình điều tra, Đặng Trung B, sinh năm 1981, địa chỉ Phường M, thị xã B, tỉnh B. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ủy thác điều tra cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B, tỉnh B để mời Đặng Trung B làm việc, nhưng đến nay chưa làm việc được với B. Cơ quan điều tra tách ra, tiếp tục xác minh có căn cứ xử lý sau.

P khai Đ là người cho ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy, P cung cấp số điện thoại của Đ 0917430481. Qua xác minh, xác định chủ số thuê bao 0917430481 là Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1994, địa chỉ khóm 2, thị trấn T, huyện T, tỉnh C. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T kết hợp Công an thị trấn T mời Nguyễn Văn Đ làm việc, nhưng đến nay chưa làm việc được với Đ. Vì vậy, Cơ quan điều tra tách ra để tiếp tục xác minh, có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm Ngô Hùng P, Công an huyện T ra Quyết định xử phạt hành chính là đúng quy định pháp luật.

Phát biểu Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Phạm Ngô Hùng P phải nộp 200.000 đồng (án phí hình sự sơ thẩm).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Ngô Hùng P phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa, đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Phạm Ngô Hùng P 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ 21/02/2022.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa, đổi bổ sung năm 2017); khoản 1, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy: Đối 01 phong bì hoàn mẫu được niêm phong ghi số 37/GĐH-PC09 ngày 24/02/2022; 01 bịch nilon màu trắng có 02 quai sách, 05 đoạn ống hút bằng nhựa có màu xanh, trắng, vàng, cam; 01 cây nỏ làm bằng thủy tinh; 02 mảnh giấy bạc; 01 nấp chai nhựa màu đen có 02 lỗ tròn; 01 áo sơ mi dài tay màu xanhđen,cổáocóchữ T.Men; 01 quần dài, loại vãi màu đen, vùng gối phải bị rách, lưng quần phía sau bên phải có tem màu xanh, đỏ.

Tịch thu sung quỹ: Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh, loại 02 sim; sim 01 số 0939.288.808, sim 02 số 0765.237.448

(Các vật chứng trên được Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời đang quản lý tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 31/5/2022 bút lục số 149).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Phạm Ngô Hùng P phải nộp số tiền 200.000 đồng (án phí hình sự sơ thẩm).

4. Án xử sơ thẩm công khai: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo luật định.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ