vanban.org

Bản án 37/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 30/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lò Văn K ph m tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử ph t: Lò Văn K 18 (mười tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình ph t tù tính từ ngày t m giữ, t m giam ngày 22/8/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ban an HS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2022/HS-ST
Ngày: 30-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hà Văn Cương.

2. Ông Lò Văn Viễn.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Quốc Huy, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Nam – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2022, t i Tr s Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số: 38/2022/TLST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 34/2022/QĐXXST-HS ngày 18/11/2022, đối với bị cáo:

Lò Văn K, tên gọi khác: Không, sinh năm 1998; nơi cư trú: Bản N, xã C, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lò Văn P (đã chết) và con bà: Quàng Thị T; vợ, con: chưa có; tiền sự: Không.

- Nhân thân: Bị TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La quyết định áp d ng biện pháp hành chính đưa vào Cơ s cai nghiện bắt buộc với thời h n 20 tháng t i Quyết định số 27/QĐ-TA ngày 04/01/2018.

- Bị bắt t m giữ, t m giam từ ngày 22/8/2022 cho đến nay. Có mặt t i phiên toà.

Người có quyền lợi, nghĩa vu liên quan: Bà Quàng Thị T, sinh năm 1978. Trú t i: Bản N, xã C, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên toà, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Hồi 19 giờ 00’ ngày 22/8/2022, tổ công tác Công an huyện Sông Mã phối hợp với Công an xã C, Sông Mã làm nhiệm v t i khu vực bản P, xã C, Sông Mã phát hiện một người đàn ông đang dừng xe mô tô bên lề đường Quốc lộ 4G có biểu hiện nghi vấn ph m tội về ma túy, tổ công tác tiến hành kiểm tra người đàn ông khai nhận là Lò Văn K, sinh năm 1998 trú t i bản N, xã C, Sông Mã. Quá trình làm việc tổ công tác phát hiện t i lòng bàn tay trái của K có 01 gói nilon màu hồng, bên trong có chứa chất bột liên kết màu trắng (K khai nhận là Heroine). Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người ph m tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra còn t m giữ của K 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter BKS 26C1- 163.21.

Ngày 23/8/2022 t i Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã đã thành lập Hội đồng bóc, m niêm phong cân tịnh khối lượng vật chứng và trích mẫu giám định, kết quả: Số chất bột màu trắng trong gói nilon màu hồng thu giữ của K có tổng khối lượng là 0,17gam. Trích 0,03gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu K, vật chứng còn l i 0,14gam ký hiệu L để lưu kho.

T i bản Kết luận giám định số 1440/KL-KTHS ngày 25/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La, kết luận:

- Mẫu gửi giám định ký hiệu K là ma túy; loại Heroine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,03gam.

- Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,17gam; loại Heroine.

Quá trình điều tra xác định được như sau:

Lò Văn K sử d ng chất ma túy từ năm 2017. Khoảng 15 giờ ngày 22/8/2022, K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter BKS 26C1-163.21 đi từ nhà đến bản K, xã H, Sông Mã để tìm mua ma túy sử d ng cho bản thân. Khi đến bản K, K gặp một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên, tuổi, địa chỉ đang đi bộ ven đường, K liền điều khiển xe mô tô tiến l i gần nói chuyện và hỏi mua được của người đàn ông dân tộc Mông này 01 gói Heroine với giá 80.000VNĐ. Sau khi mua được ma túy, K cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi về. Khi về đến khu vực bản P, xã C, Sông Mã, K dừng xe mô tô bên lề đường để tìm nơi sử d ng ma túy thì bị tổ công tác Công an huyện Sông Mã phối hợp với Công an xã C, Sông Mã làm nhiệm v phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng nêu trên.

Cáo tr ng số: 172/CT-VKSSM ngày 16 tháng 11 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, truy tố Lò Văn K về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định t i điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

T i phiên toà, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Ph t bị cáo từ 16 tháng đến 20 tháng tù. Bị cáo không có tài sản, là dân tộc thiểu số, cư trú t i vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên không áp d ng hình ph t bổ sung (là ph t tiền) và án phí; vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật; bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa v liên quan có quyền kháng cáo.

Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa v liên quan không có ý kiến tranh luận; đều có ý kiến xin l i chiếc xe mô tô để sử d ng. Sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình ph t.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra công an huyện Sông Mã - Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện huyện Sông Mã - Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ xác định tội danh:

- Hồi 19 giờ 00 phút ngày 22/8/2022, Lò Văn K bị tổ công tác Công an huyện Sông Mã bắt quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tang vật thu giữ được t i lòng bàn tay trái của K 01 gói Nilon màu hồng, bên trong chứa chất bột liên kết màu trắng, theo kết luận giám định là ma túy, thuộc lo i Heroine, có khối lượng 0,17 gam, m c đích Tàng trữ để sử d ng.

- T i phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi ph m tội của mình; lời khai nhận hoàn toàn thống nhất với lời khai t i cơ quan Điều tra, phù hợp với biên bản ph m tội quả tang; lời khai nhận của bị cáo cũng phù hợp với nội dung, tội danh của bản Cáo tr ng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ v án. Quá trình xét hỏi, tranh luận không phát sinh tình tiết mới. Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ s kết luận: Bị cáo Lò Văn K ph m tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", tội ph m và hình ph t được quy định t i điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, kh i tố của cơ quan Điều tra và truy tố tội ph m của Viện kiểm sát đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi của bị cáo: Hành vi ph m tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội; xâm ph m sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Hành vi của bị cáo gây mất trật tự trị an t i địa phương, gây bức xúc trong nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết hành vi Tàng trữ ma túy là vi ph m pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Do đó, cần có mức hình ph t tương xứng và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm cải t o, giáo d c bị cáo và để phòng ngừa chung.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ là (người ph m tội thành khẩn khai báo) được quy định t i điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về vấn đề khác liên quan:

- Đối với người đàn ông dân tộc Mông theo bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo, t i khu vực bản K, xã H, Sông Mã. Do bị cáo không biết tên, địa chỉ c thể người này, nên Cơ quan Điều tra không có cơ s để điều tra, m rộng v án là có căn cứ, cần chấp nhận.

- Đối với chiếc mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter BKS 26C1- 163.21 t m giữ của Lò Văn K, được xác định là tài sản hợp pháp của bà Quàng Thị T, (mẹ đẻ của K). Ngày 22/8/2022, K sử d ng chiếc xe mô tô làm phương tiện đi mua ma túy bà T không được biết. Kết quả tra cứu chiếc xe mô tô không phải là vật chứng trong v án khác nên Cơ quan Điều tra không đặt vấn đề xử lý bà T và trao trả l i chiếc xe mô tô cho bà T là có căn cứ, đúng pháp luật. T i phiên toà, bà Quàng Thị T không còn ý kiến gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

6] Vật chứng của v án còn l i: 0,14gam Heroine và các đồ vật liên quan là vật cấm lưu hành và không còn giá trị sử d ng, cần tịch thu tiêu huỷ.

7] Về hình ph t bổ sung và án phí: Bị cáo không có tài sản, là dân tộc thiểu số, cư trú t i vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được không áp d ng hình ph t bổ sung (là ph t tiền) và được miễn án phí.

Đối với quan điểm của Kiểm sát viên về nội dung, tội danh và các vấn đề khác đối với bị cáo đều phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lò Văn K ph m tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử ph t: Lò Văn K 18 (mười tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình ph t tù tính từ ngày t m giữ, t m giam ngày 22/8/2022.

Không áp d ng hình ph t bổ sung đối với bị cáo.

Chấp nhận việc cơ quan Điều tra trả l i tài sản cho người có quyền lợi, nghĩa v liên quan bà Quàng Thị T.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 túi Nilon màu trắng chứa vật chứng ký hiệu L=0,14 gam Heroine; 01 mảnh Nilon màu hồng và 01 phong bì thư niêm phong bì thư niêm phong vật chứng vật ban đầu đã bóc m , được đựng trong 01 (một) phong bì thư do Bưu điện Việt Nam phát hành, đã niêm phong kín.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 162 ngày 16/11/2022 của Viện kiểm sát huyện Sông Mã và biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/11/2022 giữa Chi cục thi hành án dân sự và Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La).

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố t ng hình sự. Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa v liên quan có quyền kháng cáo trong h n 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 30/11/2022.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ