vanban.org

Bản án 37/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 13/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M và bị cáo Trần Công N phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Ủy ban nhân dân thị trấn Cái Nhum, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo Nguyễn Văn M cho Ủy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M và bị cáo Trần Công N phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MANG THÍT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH VĨNH LONG
–––––––––––––––
Bản án số: 37/2022/HS-ST
Ngày 15-9-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Hùng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Phẩm

Ông Nguyễn Đinh Cường

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Liên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Võ N Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 9 năm 2022 tại điểm cầu Trung tâm Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long, các bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần tại Ủy ban nhân dân thị trấn Cái Nhum, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2022/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2022/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 08 năm 2022 đối với các bị cáo:

1/ Lê Văn S, sinh năm 1971 tại huyện Mang Thít. Nơi cư trú: Khóm 2, thị trấn Cái Nhum, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Làm vườn; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Tân (chết) và Phan Thị Tắc (chết); anh chị em ruột có 09 người (lớn nhất sinh năm 1951, nhỏ nhất sinh năm 1970); có vợ Bùi Kim Hoàng; có 02 con lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 1997; tiền án: không; tiền sự: không; hiện bị cáo đang tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

2/ Nguyễn Văn M, sinh năm 1976 tại huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long. Nơi cư trú: Khóm 2, thị trấn Cái Nhum, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: làm vườn; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Lâm (chết) và bà Lê Thị Cảnh; anh chị em ruột có 09 người (lớn nhất sinh năm 1955, nhỏ nhất sinh năm 1980); có vợ Đoàn Thị Lùng; có 02 con sinh (lớn nhất năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2009); tiền án: không; tiền sự: 01 tiền sự: Ngày 16/12/2021 Công an huyện Mang Thít ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền là: 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, bị cáo chấp hành xong ngày 19/01/2022; hiện bị cáo đang tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

3/ Nguyễn Thanh Long, sinh năm 1988 tại huyện Mang Thít. Nơi cư trú: Khóm 2, thị trấn Cái Nhum, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: mua bán; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Chứa và bà Nguyễn Thị Hóa anh chị em ruột có 02 người (lớn nhất sinh năm 1983, nhỏ nhất sinh năm 1986); có vợ Trần Thanh Thúy; có 02 con lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2020; tiền án: không; tiền sự: không; hiện bị cáo đang tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

4/ Trần Công N, sinh năm 1968 tại huyện Mang Thít. Nơi cư trú: Khóm 2, thị trấn Cái Nhum, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: mua bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Trượng (chết) và Nguyễn Thị Liên (chết); anh chị em ruột có 04 người (lớn nhất sinh năm 1960, nhỏ nhất sinh năm 1972); có vợ Nguyễn Thị Mỹ Tiên; có 01 con sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 1997; tiền án: không; tiền sự: không; hiện bị cáo đang tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Nguyễn Hồng Thương, sinh năm 1985 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khóm 5, thị trấn Cái Nhum, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

2/ Hà Dũng Hải, sinh năm 1986. (vắng mặt)

3/Ngô N Trường, sinh năm 1985. (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Khóm 2, thị trấn Cái Nhum, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ ngày 05/5/2022 bị cáo Nguyễn Thanh Long đi bộ từ nhà đến quán của anh Nguyễn Tấn Triệu để uống cà phê, khoảng 15 phút sau thì bị cáo Nguyễn Văn M và Trần Công N cũng đến quán và cùng ngồi chung. Trong lúc nói chuyện thì cả ba nhìn thấy bị cáo Lê Văn S đang ngồi bên cửa hàng vật tư nông nghiệp “Gia Phát” của anh Trương Vĩ Bình đối diện quán cà phê, nên đi qua nói chuyện. Khi đang nói chuyện thì bị cáo Lê Văn S nhìn thấy trên bàn ghế đá của anh Bình có để 03 bộ bài Tây nên bị cáo S rủ bị cáo N, bị có Long và bị có M đánh bài thắng thua bằng tiền thì tất cả đồng ý. Anh Bình thấy vậy nên kêu bị cáo S, bị cáo N, bị cáo Long và bị cáo M qua khu nhà mồ của gia đình bị cáo N chơi. Sau đó cả bốn đi đến khu nhà mồ, cách cửa hàng vật tư nông nghiệp “Gia Phát” khoảng 100 mét, khi đi bị cáo S có mang theo 03 bộ bài. Tất cả ngồi trên nền gạch men chơi đánh bạc, bao gồm 04 tụ. Hình thức đánh bạc là đánh bài binh 13 lá, số tiền tham gia trong từng ván thấp nhất là 50.000 đồng và cao nhất là 150.000 đồng, mỗi người làm cái 01 ván bài, 01 người ăn thua với 03 người còn lại.

Khi các bị cáo đánh bài được khoảng 10 phút thì có Nguyễn Hồng Thương, Hà Dũng Hải và Ngô N Trường đến xem. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày sau khi đánh được khoảng 04 ván bài thì Công an huyện Mang Thít đến tiến hành kiểm tra và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Tang vật và đồ vật thu giữ bao gồm:

- Tiền tang trên chiếu bạc: 11.340.000 đồng.

- 156 (Một trăm năm mươi sáu) lá bài Tây đã qua sử dụng.

- 01 (một) chiếc điện thoại đi động nhãn hiệu Sang Sung, màu đen, điện thoại củ đã qua sử dụng và Tiền Việt Nam: 350.000 đồng thu trên người của bị cáo Lê Văn S.

- 01 (một) chiếc điện thoại đi động nhãn hiệu Masstel, màu xanh, điện thoại củ đã qua sử dụng và Tiền Việt Nam: 6.400.000 đồng thu trên người của bị cáo Nguyễn Văn M.

- 01 (một) chiếc điện thoại đi động nhãn hiệu OPPO, màu vàng Gold, điện thoại củ đã qua sử dụng thu trên người của bị cáo Nguyễn Thanh Long.

- 01 (một) chiếc điện thoại đi động nhãn hiệu Huawei, màu xanh đen, điện thoại củ đã qua sử dụng và Tiền Việt Nam: 3.050.000 đồng thu trên người của Hà Dũng Hải.

- 01 (một) chiếc điện thoại đi động nhãn hiệu OPPO, màu xanh đen, điện thoại củ đã qua sử dụng thu trên người của Ngô N Trường.

Quá trình làm việc với Trần Công N, Nguyễn Thanh Long, Nguyễn Văn M và Lê Văn S và đã thừa nhận hành vi đánh bạc (đánh bài) ăn thua bằng tiền của mình. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít đã chứng minh các đối tượng đánh bạc cụ thể như sau:

- Trần Công N khi đến địa điểm đánh bạc, N có mang theo số tiền 10.100.000 đồng, trả tiền nước uống là 120.000 đồng. Còn lại 9.980.000 đồng để hết dưới chiếu bạc, N phân ra 4.400.000 đồng trả tiền công cho người làm thuê để trước mặt, còn 5.580.000 đồng dùng để đánh bạc để bên hong phải. Khi bị bắt quả tang N đã thua hết 400.000 đồng, khi bị bắt Nguyễn Thanh Long có lấy số tiền 1.590.000 đồng trong số tiền 4.400.000 đồng của N bỏ chạy, như vậy số tiền của N tại chiếu bạc số tiền là 7.990.000 đồng.

- Nguyễn Thanh Long khi đến địa điểm đánh bạc, Long có mang theo số tiền 850.000 đồng, sử dụng 850.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt quả tang Long thắng được 350.000 đồng và bỏ tại chiếu bạc 1.200.000 đồng.

- Lê Văn S khi đến địa điểm đánh bạc, S có mang theo số tiền 350.000 đồng, sử dụng hết 350.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt quả tang S đã thắng được 400.000 đồng và bỏ tại chiếu bạc.

- Nguyễn Văn M khi đến địa điểm đánh bạc, M có mang theo số tiền 8.000.000 đồng, sử dụng 1.600.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt quả tang M đã thắng được 150.000 đồng, bỏ tại chiếu bạc 1.750.000 đồng.

Ngày 08/5/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít ra quyết định khởi tố bị can đối với Trần Công N, Nguyễn Thanh Long, Nguyễn Văn M và Lê Văn S về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trong quá trình điều tra bị cáo Trần Công N, Nguyễn Văn M, Nguyễn Thanh Long và Lê Văn S đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Về nhân thân bị cáo Nguyễn Thanh Long có bà nội Võ Thị Nương là Bà Mẹ Việt Nam anh hùng, bị cáo Lê Văn S có chú ruột Lê Văn Thơ là liệt sĩ hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

* Về tang vật và đồ vật thu giữ:

- Tiền tang trên chiếu bạc: 11.340.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít đã chứng minh tiền của bị cáo Nguyễn Thanh Long là 1.200.000 đồng, bị cáo Lê Văn S là 400.000 đồng, bị cáo Nguyễn Văn M là 1.750.000 đồng và bị cáo Trần Công N là 7.990.000 đồng. Trong số tiền 7.990.000 đồng của bị cáoTrần Công N trong đó 5.180.000 đồng là tiền dùng đánh bạc, còn lại 2.810.000 đồng là tiền dùng để trả tiền công cho người làm thuê. Đây là tiền có liên quan đến việc đánh bạc nên tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.

- 156 (Một trăm năm mươi sáu) lá bài Tây đã qua sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít đã chứng minh đây là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Trương Vĩ Bình. Hiện nay anh Bình không có yêu cầu nhận lại nên tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.

- Tiền Việt Nam 9.800.000 đồng thu trên người của bị cáo Lê Văn S, Nguyễn Văn M và Hà Dũng Hải. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít đã chứng minh đây là tài sản thuộc quyền sở hữu của bị cáo Lê Văn S, Nguyễn Văn M và Hà Dũng Hải. Trong đó số tiền 3.050.000 đồng của Hà Dũng Hải không liên quan đến vụ án nên đã trả lại cho Hải xong. Số tiền còn lại có liên quan đến vụ án nên tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.

- Đối với 01 (một) chiếc điện thoại đi động nhãn hiệu Sang Sung, màu đen; 01 (một) chiếc điện thoại đi động nhãn hiệu Masstel, màu xanh; 01 (một) chiếc điện thoại đi động nhãn hiệu OPPO, màu vàng Gold; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Huawei, màu xanh đen; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh đen. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít đã chứng minh đây là tài sản thuộc quyền sở hữu của bị cáo Lê Văn S, bị cáo Nguyễn Văn M, bị cáo Nguyễn Thanh Long, Hà Dũng Hải và Ngô N Trường, các điện thoại trên không liên quan đến vụ án nên trả lại xong.

Ngoài ra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít đã chứng minh vào ngày 05/5/2022 bị cáo Lê Văn S dùng số tiền 350.000 đồng để đánh bạc. Hiện nay S đã nộp lại số tiền này xong. Đây là tiền dùng đánh bạc nên tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít còn chứng minh khi bị bắt quả tang bị cáo Nguyễn Thanh Long có lấy trên chiếu bạc số tiền 1.590.000 đồng bỏ chạy và bị mất. Đây là tiền của bị cáoTrần Công N dùng để trả tiền công cho người làm thuê. Hiện nay bị cáo Long đã tự nguyện nộp lại xong. Số tiền trên có liên quan đến vụ án nên tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.

Đối với Nguyễn Hồng Thương, Hà Dũng Hải và Ngô N Trường có mặt tại địa điểm đánh bạc nhưng không có tham gia đánh bạc nên không xử lý.

Tại bản cáo trạng số 37/CT-VKS.HMT, ngày 05/08/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít truy tố các bị cáo Lê Văn S và Trần Công N, Nguyễn Thanh Long, Nguyễn Văn M về tội “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, các bị cáo Lê Văn S và Trần Công N, Nguyễn Thanh Long, Nguyễn Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của các bị cáo Lê Văn S và Trần Công N, Nguyễn Thanh Long, Nguyễn Văn M đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: Khoản 1, 3 Điều 321, các điểm i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 17, Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Lê Văn S, Nguyễn Thanh Long từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ. Phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng. Miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo.

- Áp dụng: Khoản 1, 3 Điều 321, các điểm i, s khoản 1, Điều 51, Điều 17, Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Trần Công N từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ. Phạt bổ sung từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

- Áp dụng: Khoản 1, 3 Điều 321, các điểm i, s khoản 1, Điều 51, Điều 17, Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm cải tạo không giam giữ. Phạt bổ sung từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước: 8.880.000 đồng (Tám triệu tám trăm tám mươi ngàn đồng).

- Tịch thu tiêu hủy: 156 (Một trăm năm mươi sáu) lá bài Tây đã qua sử dụng.

-Tiếp tục tạm giữ số tiền 6.400.000 đồng của bị cáo Nguyễn Văn M và 4.400.000 đồng của bị cáo Trần Công N để đảm bảo cho việc thi hành án.

- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Buộc các bị cáo Lê Văn S và Trần Công N, Nguyễn Thanh Long, Nguyễn Văn M mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo thừa nhận mình có tội và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mang Thít, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Công N, Nguyễn Thanh Long, Nguyễn Văn M và Lê Văn S khai nhận: Vào ngày 05/05/2022 các bị cáo Trần Công N, Nguyễn Thanh Long, Nguyễn Văn M và Lê Văn S đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền bằng hình thức đánh bạc là đánh bài binh 13 lá, số tiền tham gia trong từng ván thấp nhất là 50.000 đồng và cao nhất là 150.000 đồng mỗi người làm cái 01 ván bài, 01 người ăn thua với 03 người còn lại. Với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 8.880.000 đồng. Xét thấy, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của các đối tượng cùng tham gia và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Ngày 16/12/2021 Công an huyện Mang Thít ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền là: 1.500.000 đồng đối với bị cáo Nguyễn Văn M về hành vi “Đánh bạc”, đáng lẽ khi chấp hành xong bị cáo phải biết ăn năn hối cải, nhưng ngược lại bị cáo lại tiếp tục phạm tội, thể hiện sự xem thường pháp luật của bị cáo Nguyễn Văn M. Các bị cáo Trần Công N, Nguyễn Thanh Long, Nguyễn Văn M và Lê Văn S đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nên hành vi của các bị cáo Trần Công N, Nguyễn Thanh Long, Nguyễn Văn M và Lê Văn S đã cấu thành tội “Đánh bạc”. Do đó, có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Trần Công N, Nguyễn Thanh Long, Nguyễn Văn M và Lê Văn S phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhưng không có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm nên chỉ là đồng phạm giản đơn. Các bị cáo Trần Công N, Nguyễn Thanh Long, Nguyễn Văn M và Lê Văn S cùng giữ vai trò đồng phạm là người thực hành.

Xét tính chất, mức độ hành vi do các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội không lớn, xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng ở địa phương, chỉ vì ham lợi bất chính mà thực hiện hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền. Bản thân bị cáo Nguyễn Văn M đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc chưa được xóa tiền sự, lẽ ra các bị cáo phải biết hành vi sai trái của mình để sửa đổi trở thành người công dân có ích cho xã hội nhưng bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật nhưng vẫn quyết tâm tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện sự xem thường pháp luật, gây bất bình trong xã hội, làm mất trật tự ở địa phương. Đánh bạc là một tệ nạn xã hội thường dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng khác như trộm cắp, gây thương tích, cướp của …vì thế, để đấu tranh ngăn chặn tệ nạn này không để tái diễn trong xã hội, giữ gìn trật tự công cộng, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ và tài sản của công dân,…cần xử phạt các bị cáo một mức hình phạt nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Đối với bị cáo Nguyễn Thanh Long có bà nội Võ Thị Nương là Bà Mẹ Việt Nam anh hùng, bị cáo Lê Văn S có chú ruột Lê Văn Thơ là liệt sĩ hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, do đó không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà xử phạt các bị cáo cải tạo không giam giữ, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục cải tạo các bị cáo trong một thời gian dài giúp các bị cáo trở thành công dân hữu ích.

Về hình phạt bổ sung và nghĩa vụ khấu trừ thu nhập:

- Phạt bổ sung bị cáo các bị cáo Nguyễn Thanh Long và Lê Văn S mỗi bị cáo số tiền 10.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn Văn M số tiền 20.000.000 đồng, bị cáo Trần Công N số tiền 15.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.

- Miễn việc khấu trừ thu nhập để sung quỹ nhà nước đối với các bị cáo do các bị cáo có thu nhập không ổn định.

Đối với các đối tượng Nguyễn Hồng Thương, Hà Dũng Hải và Ngô N Trường có mặt tại địa điểm đánh bạc nhưng không có tham gia đánh bạc nên không xử lý.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước: Tiền Việt Nam đồng: 8.880.000 đồng (Tám triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng).

- Tịch thu tiêu hủy: 156 (Một trăm năm mươi sáu) lá bài Tây đã qua sử dụng.

-Tiếp tục tạm giữ số tiền 6.400.000 đồng của bị cáo Nguyễn Văn M và 4.400.000 đồng của bị cáo Trần Công N để đảm bảo cho việc thi hành án.

Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận một phần.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Buộc các bị cáo Trần Công N, Nguyễn Thanh Long, Nguyễn Văn M và Lê Văn S mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36, Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M và bị cáo Trần Công N phạm tội “Đánh bạc”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Ủy ban nhân dân thị trấn Cái Nhum, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Nguyễn Văn M cho Ủy ban nhân dân thị trấn Cái Nhum, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân thị trấn Cái Nhum, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Miễn việc khấu trừ thu nhập để sung quỹ nhà nước đối với bị cáo M.

Phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn M 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) để sung công quỹ Nhà nước.

- Xử phạt bị cáo Trần Công N 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Ủy ban nhân dân thị trấn Cái Nhum, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Trần Công N cho Ủy ban nhân dân thị trấn Cái Nhum, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân thị trấn Cái Nhum, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Miễn việc khấu trừ thu nhập để sung quỹ nhà nước đối với bị cáo N.

Phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Công N 15.000.000 đồng (M lăm triệu đồng) để sung công quỹ Nhà nước.

2. Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36, Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh Long và bị cáo Lê Văn S phạm tội “Đánh bạc”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Long 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Ủy ban nhân dân thị trấn Cái Nhum, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Nguyễn Thanh Long cho Ủy ban nhân dân thị trấn Cái Nhum, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân thị trấn Cái Nhum, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Miễn việc khấu trừ thu nhập để sung quỹ nhà nước đối với bị cáo Long.

Phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Thanh Long 10.000.000 đồng (M triệu đồng) để sung công quỹ Nhà nước.

- Xử phạt bị cáo Lê Văn S 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Ủy ban nhân dân thị trấn Cái Nhum, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Lê Văn S cho Ủy ban nhân dân thị trấn Cái Nhum, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân thị trấn Cái Nhum, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Miễn việc khấu trừ thu nhập để sung quỹ nhà nước đối với bị cáo S.

Phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Văn S 10.000.000 đồng (M triệu đồng) để sung công quỹ Nhà nước.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước: Tiền Việt Nam đồng: 8.880.000 đồng (Tám triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng)

- Tịch thu tiêu hủy: 156 (Một trăm năm mươi sáu) lá bài Tây đã qua sử dụng.

- Trả lại số tiền 6.400.000 đồng cho bị cáo Nguyễn Văn M, tuy nhiên tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

- Trả lại số tiền 4.400.000 đồng cho bị cáo Trần Công N, tuy nhiên tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

(Các vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít đang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09/8/2022 và hiện Kho bạc Nhà nước huyện Mang Thít đang quản lý theo biên bản bàn giao, nhận tài sản ngày 10/8/2022).

4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Trần Công N, Nguyễn Thanh Long, Nguyễn Văn M và Lê Văn S mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được qui định theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, báo cho các bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong thời hạn M lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là M lăm ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ