- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn N phạm tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? *Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2022/HS-ST Ngày 12 - 7 - 2022 |
N2 DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Khúc Trọng Quang
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đặng Thị Đôi
Bà Vũ Thị Quỳ
-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quý Linh – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 33/2022/TLST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2022/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:
Hoàng Văn N, sinh ngày 01 tháng 10 năm 1960, tại Hải Phòng; Nơi đăng ký thường trú: Thôn Đ1, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn N2 và bà Vũ Thị N3 (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị H2, sinh năm 1962, có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1987, con nhỏ nhất sinh năm 1994; tiền án: Không; tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 19 ngày 21/01/2022 của Công an huyện K xử phạt về hành vi đánh bạc; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/3/2022 đến ngày 25/4/2022 bị bắt để tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện K; có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1962; địa chỉ: Thôn L, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
- Ông Ngô Văn H, sinh năm 1971; địa chỉ: Thôn L, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng, có mặt.
- Ông Vũ Văn G, sinh năm 1956; địa chỉ: Thôn Đ1, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
- Ông Vũ Văn M, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn Đ1, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
- Ông Phạm Văn K, sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn L, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng, có mặt.
- Ông Phạm Văn K1, sinh năm 1962; địa chỉ: Thôn L, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hoàng Văn N là đối tượng có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc trái phép chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính, trong khoảng thời gian từ tháng 2/2022 đến tháng 4/2022, N tiếp tục 02 lần đánh bạc dưới hình thức đánh phỏm, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 10/02/2022, Hoàng Văn N, Vũ Văn G, Ngô Văn H đến chòi ao cá của S ngồi chơi uống nước. Sau đó cả nhóm rủ nhau đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh phỏm và lấy bộ bài có sẵn ở chòi. Cả nhóm quy ước tỷ lệ 20.000 đồng, 30.000 đồng, 40.000 đồng tương ứng với số tiền người về thứ hai, thứ ba, thứ tư phải trả cho người về nhất; người nào “cháy” phải trả cho người về nhất 50.000 đồng, người nào “ù” thì ba người còn lại mỗi người phải trả cho người “ù” 70.000 đồng. N sử dụng 400.000 đồng, G sử dụng 250.000 đồng, H sử dụng 100.000 đồng, S sử dụng 60.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt không rõ thắng thua. Tổng số tiền đánh bạc là 810.000 đồng. Cả nhóm đánh bạc đến 10 giờ 30 phút cùng ngày bị Công an huyện K phát hiện và thu giữ vật chứng như trên.
Vụ thứ hai: Buổi trưa ngày 09/4/2022, Hoàng Văn N, Phạm Văn K1, Phạm Văn K đến nhà của Vũ Văn M ăn cơm. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, cả nhóm rủ nhau đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh phỏm tại gian bếp và lấy bộ bài có sẵn ở nhà M. Cả nhóm quy ước tỷ lệ 10.000 đồng, 20.000 đồng, 30.000 đồng tương ứng với số tiền người về thứ hai, thứ ba, thứ tư phải trả cho người về nhất; người nào “cháy” phải trả cho người về nhất 50.000 đồng, người nào “ù” thì ba người còn lại mỗi người phải trả cho người “ù” 70.000 đồng. N sử dụng 170.000 đồng, K sử dụng 150.000 đồng để đánh bạc; M và K1 không có tiền và thống nhất nợ ai, sẽ trả người đó sau. Ván chơi đầu tiên N nhất, K1 nhì, K và M bị “cháy”, vì vậy K1 nợ N 10.000 đồng, M nợ N 50.000 đồng. Đang đánh ván thứ hai thì bị Công an phát hiện, do đó số tiền M sử dụng để đánh bạc là 50.000 đồng, K1 sử dụng 10.000 đồng. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng đánh bạc là 380.000 đồng.
Trong khi đánh bạc cả 02 vụ, Không có ai canh gác, cảnh giới, Không ai thu tiền hồ, Không ai cho vay tiền, cầm cố tài sản để đánh bạc.
Tại Bản cáo trạng số 29/CT-VKSKT ngày 15 tháng 6 năm 2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện K đã truy tố bị cáo Hoàng Văn N phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Đối với Nguyễn Văn S, Vũ Văn G, Ngô Văn H, Vũ Văn M, Phạm Văn K1 và Phạm Văn K có hành vi đánh bạc với số tiền dưới 5.000.000 đồng, chưa có tiền án, tiền sự nên ngày 13/5/2022 Công an huyện K đã xử phạt vi phạm hành chính.
- Ý kiến của Kiểm sát viên: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Hoàng Văn N về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Văn N từ 12 – 15 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ số tiền 1.190.000 đồng bị cáo và các đối tượng liên quan dùng vào việc đánh bạc; tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tú lơ khơ không còn giá trị sử dụng; bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến của bị cáo Hoàng Văn N: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh như Viện kiểm sát nhân dân huyện K đã truy tố là đúng; bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Về tội danh và điều luật Viện kiểm sát nhân dân huyện K truy tố đối với bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn N khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của các đối tượng tham gia đánh bạc cùng bị cáo, phù hợp với biên bản vụ việc, biên bản vi phạm hành chính, vật chứng thu giữ được cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa đã có đủ cơ sở xác định: Trong khoảng thời gian từ 10 giờ 00 phút đến 10 giờ 30 phút ngày 10/02/2022 tại thôn L, xã Đ, huyện K, Hoàng Văn N đã có hành vi dùng 400.000 đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh phỏm với các đối tượng khác, cụ thể: Nguyễn Văn S dùng số tiền 60.000 đồng, Vũ Văn G sử dụng 250.000 đồng, Ngô Văn H sử dụng số tiền 100.000 đồng, tổng số tiền thu tại chiếu bạc là 810.000 đồng; trong khoảng thời gian từ 12 giờ 30 phút đến 12 giờ 45 phút ngày 09/4/2022 tại thôn Đ1, xã Đ, huyện K, Hoàng Văn N sử dụng 170.000 đồng, Vũ Văn M dùng số tiền là 50.000 đồng, Phạm Văn K1 dùng số tiền là 10.000 đồng, Phạm Văn K dùng số tiền 150.000 đồng để đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh phỏm, tổng số tiền thu tại chiếu bạc là 320.000 đồng và 50.000 đồng của M và K1 tự nguyện giao nộp. Mặc dù số tiền đánh bạc bị cáo và các đối tượng dùng để đánh bạc trong cả hai lần đánh bạc chưa đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự tuy nhiên do nhân thân bị cáo Hoàng Văn N đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, hành vi này chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính nên hành vi đánh bạc 02 lần của bị cáo N phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự như đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K kết luận tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc 02 lần vào các ngày 10/02/2022 và ngày 09/4/2022 nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo N thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính mà còn gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự trị an xã hội nên cần xét xử nghiêm khắc đối với bị cáo. Bị cáo N nhân thân đã bị xử phạt vi phạm hành chính chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính thì bị cáo lại tiếp tục phạm tội 02 lần, thể hiện bị cáo Không có ý thức cải tạo, tu dưỡng để trở thành người công dân lương thiện nên cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Tài liệu điều tra và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định và không có tài sản riêng, do vậy hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ số tiền 1.190.000 đồng là tiền bị cáo N và các đối tượng liên quan dùng vào việc đánh bạc, cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
Vật chứng gồm 02 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài là dụng cụ, phương tiện bị cáo và các đối tượng dùng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn N 12 (mười hai) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày 25/4/2022.
*Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:
- Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tú lơ khơ, mỗi bộ 52 quân bài.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/6/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện K, thành phố Hải Phòng).
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 1.190.000 đồng (một triệu, một trăm chín mươi N đồng).
(Theo Giấy nộp tiền ngày 17/6/2022 tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện K, thành phố Hải Phòng).
* Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội, bị cáo Hoàng Văn N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm N đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
* Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo Hoàng Văn N có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - VKSND; TAND TP Hải Phòng; - VKSND huyện K; - Công an huyện K; - Phòng PV06; PC10 - Chi cục THADS huyện K; - Sở tư pháp thành phố Hải Phòng; - UBND xã Đ; K - Bị cáo; người liên quan - Hồ sơ vụ án; - Lưu VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Khúc Trọng Quang |