vanban.org

Bản án 37/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 15/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày 15 tháng 9 năm 2022. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường 1, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp giám sát, giáo dục. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thự…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Nguyễn Nhất T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 584 Bộ luật Dân sự Người đại diện hợp pháp; Điều 585 Bộ luật Dân sự Người đại diện hợp pháp
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2022/HS-ST
Ngày: 15 - 9 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Hùng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Minh Thư

Ông Nguyễn Ngọc Tòng

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Thùy là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Phú - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2022/TLST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2022/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

T, sinh năm 1989; tại huyện V, tỉnh Đ; nơi cư trú: số 343E đường F, khóm 3, phường 1, thành phố W, tỉnh Đ; nghề nghiệp: bác sĩ; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông P và bà L; vợ: H và con có tất cả 01 người sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Tân ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/6/2022 cho đến ngày 01/9/2022. Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông X, sinh năm 1955

Người đại diện hợp pháp cho bị hại:

1/ Bà N, sinh ngày 01/01/1953. Nơi cư trú: tổ 03, khóm G, thị trấn Q, huyện B, tỉnh V1. (Vắng mặt)

2/ Ông A, sinh ngày 01/01/1972. Nơi cư trú: ấp S, xã B1, huyện C, tỉnh K. (Vắng mặt)

3/ Bà D, sinh ngày 02/12/1983. Nơi cư trú: ấp E, thị trấn R, huyện R, thành phố R. (Vắng mặt)

4/ Ông U, sinh năm 1970. Nơi cư trú: tổ 03, khóm G, thị trấn Q, huyện B, tỉnh V1. (Vắng mặt)

5/ Ông G1, sinh ngày 09/10/1986. Nơi cư trú: tổ 03, khóm G, thị trấn Q, huyện B, tỉnh V1. (Có mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của bà N, ông A, bà D, ông ĐU là ông G1 (theo văn bản ủy quyền ngày 28/5/2022) (Có mặt)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Tổng Công ty Cổ phần bảo hiểm O. Trụ sở: Số 27 J, phường Z, thành phố C1, tỉnh Đ. (Xin vắng mặt)

Người làm chứng: Ông D1, sinh năm 1978. Nơi cư trú: Tổ 6, ấp P1, xã T1, huyện B, tỉnh V1. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 06 giờ 20 phút, ngày 27/4/2022 T điều khiển xe ôtô biển số 66A-061.07 chở chị T2 chạy trên quốc lộ 54 theo hướng từ thị xã B1, tỉnh V1 về hướng huyện V, tỉnh Đ. Khi Thanh chạy xe đến đoạn đường thuộc tổ 05, ấp P1, xã T1, huyện B, tỉnh V1 thì Thanh thiếu quan sát phía trước nên đụng vào xe đạp do ông X, sinh năm 1955 cư ngụ tổ 3, khóm G, thị trấn Q, huyện B, tỉnh V1 chạy phía trước cùng chiều (hướng từ thị xã B1, tỉnh V1 về hướng huyện V, tỉnh V1). Hậu quả làm ông X và xe đạp ngã xuống lộ, ông X bị thương nặng tử vong trên đường đi cấp cứu.

Căn cứ vào biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông, biên bản xác định hướng xe đi và điểm đụng cùng với Bản kết luận lỗi của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Tân, xác định nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn là do T điều khiển xe ôtô con biển số 66A-061.07 không chú ý quan sát phía trước gây tai nạn là vi phạm vào khoản 23 điều 8 luật giao thông đường bộ: “Hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ”. Còn ông X chạy xe đạp đúng quy định, không có lỗi. (BL: 25-41, 56)

Căn cứ kết luận của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long giám định kết luận: Nguyên nhân tử vong của ông X là do: Chấn thương sọ não. (BL: 53, 54)

Qua điều tra, T thừa nhận toàn bộ hành vi điều khiển xe ô tô gây tai nạn làm ông X tử vong như đã nêu. (BL: 119-125, 140-145)

Xét thấy đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Tân ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú để điều tra cho đến nay.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã giải quyết được như sau:

Đối với xe ôtô biển số 66A-061.07 của T có mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự của Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm O. Ngày 29/7/2022 Công ty bảo hiểm O có văn bản trả lời: Chi trả bảo hiểm cho T với số tiền 150.000.000 đồng. T đã nhận đủ số tiền trên và không có ý kiến gì thêm. (BL: 118)

Cơ quan điều tra đã trả lại xe ôtô, giấy chứng nhận đăng ký xe, giấy chứng nhận kiểm định cùng giấy chứng nhận bảo hiểm xe ôtô biển số 66A-061.07 cho bị can T. Còn giấy phép lái xe hạng B2 của T thì Cơ quan điều tra đang tạm giữ để chờ xử lý (BL: 99)

Đối với chiếc xe đạp của X được Cơ quan điều tra trả lại xong anh G1 là người đại điện hợp pháp của nạn nhân. (BL: 100)

Về trách nhiệm dân sự:

Đối với anh G1 con của nạn nhân X yêu cầu T bồi thường chi phí mai táng, tổn thất tinh thần với số tiền 160.000.000 đồng. T đã bồi thường xong. Sau khi nhận tiền xong thì anh G1 đã làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho T và không yêu cầu gì thêm.

Tại Cáo trạng số 38/CT-VKSBT ngày 19/8/2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long đã truy tố bị can T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, sau khi phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả, nhân thân của bị cáo, năng lực trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo T đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt chính: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 65; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 03 năm đến 04 năm.

Về hình phạt bổ sung: Tước giấy phép lái xe từ 01 năm đến 02 năm.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 586, 591 Bộ luật Dân sự

Ông G1 là người đại diện hợp pháp cho bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường các khoản tiền: mai táng, chôn cất và tiền tổn thất tinh thần… tổng cộng là 160.000.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường xong số tiền trên cho phía gia đình bị hại. Sau khi nhận đủ tiền ông không có yêu cầu gì thêm nên không đặt ra giải quyết.

Tại phiên tòa, bị cáo tự nguyện hỗ trợ 03 triệu đồng/tháng cho vợ của bị hại là bà N cho đến khi bà qua đời. Ông G1 đồng ý với sự nguyện này. Do đó, đề nghị ghi nhận sự tự nguyện giữa các đương sự.

Ngày 06/9/2022 Công ty bảo hiểm O có văn bản trả lời về việc đã chi trả quyền lợi bảo hiểm cho bị cáo trong vụ tai nạn giao thông với mức là 150 triệu đồng theo hợp đồng bảo hiểm số 305/22/HD-XE/021-01 (có chứng từ kèm theo). Do đó, đề nghị không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại: 01 xe ôtô, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe, 01 giấy chứng nhận kiểm định cùng giấy chứng nhận bảo hiểm xe ôtô biển số 66A-061.07 cho bị cáo; 01 chiếc xe đạp của bị hại cho ông G1.

- Đề nghị trả lại 01 giấy phép lái xe hạng B2 cho bị cáo sau khi hết thời hạn chấp hành hình phạt bổ sung.

Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân đã truy tố.

Ông G1 trình bày: Ông là con của bị hại, ông đã nhận đủ số tiền bồi thường là 160.000.000 đồng. Đối với sự tự nguyện của bị cáo hỗ trợ 3 triệu đồng/tháng cho bà N đến khi bà mất thì ông đồng ý. Ông không yêu cầu gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết lỗi, bị cáo xin được bù đắp một phần nào hậu quả của hành vi mình gây ra.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Bình Tân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong vụ án người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến phiên tòa. Tuy nhiên, họ có đầy đủ lời khai tại cơ quan điều tra nên sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến quá trình xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án tại cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, đủ cơ sở kết luận khoảng 06 giờ 20 phút, ngày 27/4/2022, T điều khiển xe ôtô biển số 66A-061.07 chở bà T2 chạy trên quốc lộ 54 theo hướng từ thị xã B1, tỉnh V1 về hướng huyện V, tỉnh Đ. Khi T chạy xe đến đoạn đường thuộc tổ 05, ấp P1, xã T1, huyện B, tỉnh V1 thì không chú ý quan sát phía trước nên đụng vào xe đạp của ông X chạy cặp lề phải phía trước cùng chiều làm xe đạp và ông X té ngã xuống lộ. Tai nạn xảy ra làm ông X tử vong. Theo kết luận giám định pháp y số 267/KLGĐ-PC09 ngày 29/4/2022 thì nguyên nhân tử vong của bị hại là do chấn thương sọ não. (BL 53-54)

Hành vi trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân đã truy tố bị cáo với tội danh và điều luật như trong Bản cáo trạng số 38/CT-VKSBT ngày 19/8/2022 cũng như lời luận tội của vị Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa sơ thẩm là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng bởi bị cáo là người có đủ năng lực hành vi dân sự nhưng khi tham gia giao thông bị cáo lại không chấp hành đúng những quy tắc giao thông đường bộ nên đã vô ý gây ra tai nạn hậu quả làm cho bị hại tử vong. Chính vì vậy cần có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự cho bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền án; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi về hành vi phạm tội của mình vì sau khi phạm tội bị cáo đã đến gia đình bị hại bồi thường toàn bộ số tiền 160.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền xong, đại diện gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự do đó cần áp dụng khi lượng hình cho bị cáo.

Xét bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình đang có nơi cư trú rõ ràng không cần thiết cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà giao cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục là đủ răn đe.

Về hình phạt bổ sung miễn cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 586, 591 Bộ luật Dân sự

Người đại diện hợp pháp của bị hại là ông G1 yêu cầu bị cáo bồi thường tiền khám chữa bệnh, chi phí mai táng, tiền tổn thất tinh thần với tổng số tiền 160.000.000 đồng. Trong quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường xong cho phía gia đình bị hại. Sau khi nhận tiền xong ông G1 không có yêu cầu gì thêm do đó Hội đồng không đặt ra xem xét, giải quyết.

Xét thấy tại phiên tòa, bị cáo tự nguyện hỗ trợ 03 triệu đồng/tháng cho vợ của bị hại là bà N cho đến khi bà qua đời. Ông G1 đồng ý với sự nguyện này. Vì đây là sự tự nguyện của các đương sự không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên cần được ghi nhận.

Ngày 06/9/2022 Công ty bảo hiểm O có văn bản trả lời cho Tòa án huyện Bình Tân về việc đã chi trả quyền lợi bảo hiểm cho bị cáo trong vụ tai nạn giao thông với mức là 150 triệu đồng theo hợp đồng bảo hiểm số 305/22/HD-XE/021-01 (có chứng từ kèm theo). Do đó, Hội đồng không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại: 01 xe ôtô, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe, 01 giấy chứng nhận kiểm định cùng giấy chứng nhận bảo hiểm xe ôtô biển số 66A-061.07 cho bị cáo; 01 chiếc xe đạp của bị hại cho ông G1.

- Trả lại 01 giấy phép lái xe hạng B2 cho bị cáo.

Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 65; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày 15 tháng 9 năm 2022.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường 1, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp giám sát, giáo dục. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 586, 591 Bộ luật Dân sự

Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo đồng ý hỗ trợ mỗi tháng cho bà N với số tiền là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) cho đến khi bà qua đời.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

3. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trả lại 01 (một) giấy phép lái xe hạng B2 cho bị cáo.

4. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự

5. Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ