- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NĐ Ong Thị hà; BĐ Lý T"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ong Thị H đối với bị đơn ông Lý T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2022/HNGĐ-ST Ngày: 15/8/2022 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con và cấp dưỡng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
Với tHnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Chiêu Hùng.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Triệu Khánh Long
Bà Nguyễn Huỳnh Hoa
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Hồ Văn Phân - Kiểm sát viên.
Ngày 15/8/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án dân sự thụ lý số: 71/2022/TLST-HNGĐ, ngày 24 tháng 3 năm 2022, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con và cấp dưỡng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/7/2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 49/2022/QĐST-HNGĐ ngày 01/8/2022; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Ong Thị H, sinh năm 1985; (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: khóm S, phường H, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn: Ông Lý T, sinh năm 1983; (vắng mặt)
Địa chỉ: khóm S, phường H, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/01/2022 (BL01) cũng như quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Ong Thị H trình bày: Bà Ong Thị H kết hôn với ông Lý T và được Ủy ban nhân dân Phường H, thị xã VC cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 22/01/2003. Qúa trình sống chung, vợ chồng đã có 03 (ba) con chung tên Lý Thị Bé N (nữ), sinh ngày 04/11/2003, Lý Anh K (nam), sinh ngày 24/4/2013, Lý Anh K1 (nam), sinh ngày 13/9/2007. Do vợ chồng thường xảy ra cãi vả và phát sinh nhiều mâu thuẫn nên sống chung không còn hạnh phúc.
Nay bà Ong Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết như sau: Về hôn nhân: Bà H yêu cầu được ly hôn ông Lý T. Về con chung: Tùy theo nguyện vọng của các con muốn sống với cha hay với mẹ thì người đó trực tiếp nuôi dưỡng. Nếu các cháu sống với mẹ bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con, nếu các cháu muốn sống với cha bà H đồng ý cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng/01cháu/01tháng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận phân chia với nhau. Về Nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T, nhưng ông T không có văn bản gửi đến Tòa án để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà H, đồng thời ông T cũng không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tham gia phiên tòa.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã chấp Hnh đúng pháp luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chấp Hnh đúng pháp luật, tuy nhiên sự chấp Hnh pháp luật của bị đơn chưa đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà H được ly hôn với ông T. Về con chung: Giao con chung cháu Lý Anh K (Nam), sinh ngày 24/4/2013 và cháu Lý Anh K1 (Nam), sinh ngày 13/9/2007 cho bà H được tiếp tục, trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu K, K1 đủ 18 tuổi và cũng theo nguyện vọng của cháu Lý Anh K, Lý Anh K1, nếu cha mẹ không còn chung sống với nhau, cháu K, K1 có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của bà H không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con; Đối với cháu Lý Thị Bé N, sinh ngày 04/11/2003 đã trưởng tHnh đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. Về tài sản chung: Đương sự tự thỏa thuận phân chia không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, về nợ chung: đương sự trình bày không có, không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập xét xử đến lần thứ hai cho ông T, nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý do, bà H có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt bà H và ông T theo quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu khởi kiện của bà Ong Thị H, nhận thấy hôn nhân của bà H và ông T là tự nguyện kết hôn, có tổ chức lễ cưới và có đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện VC, tỉnh Sóc Trăng (nay là phường H, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng) và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 22/01/2003. Quan hệ hôn nhân của bà H và ông T không vi phạm các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Nhưng sau một thời gian chung sống thì phát sinh nhiều mâu thuẫn và hai người đã ly thân từ khoảng tháng 9 năm 2020 cho đến nay, nguyên nhân chính là do bất đồng quan điểm sống, nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi vã nhau. Bà H nhận thấy cuộc sống chung không hạnh phúc, không còn tình cảm vợ chồng với ông T nên có nguyện vọng ly hôn. Từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa các bên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà H được ly hôn với ông T.
Về con chung: Thời gian chung sống với nhau bà H và ông T có 03 người con chung tên Lý Thị Bé N (nữ), sinh ngày 04/11/2003, Lý Anh K (nam), sinh ngày 24/4/2013, Lý Anh K1 (nam), sinh ngày 13/9/2007 hiện đang chung sống chung với bà H. Bà H tôn trọng ý kiến của các cháu K, K1 muốn sống cha hay với mẹ thì người đó nuôi dưỡng, nếu cháu muốn sống với bà H thì bà H không yêu cầu ông T thực hiện cấp dưỡng nuôi con, nếu các cháu muốn sống với ông T thì bà H cũng đồng ý và đồng ý thực cấp cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng/01 cháu cho đến khi các cháu K, K1 đủ 18 tuổi và cũng theo nguyện vọng của cháu K, cháu K1 nếu cha mẹ không còn chung sống với nhau các cháu K, K1 có nguyện vọng được sống với mẹ. Để đảm bảo cuộc sống của các cháu K, K1 không bị xáo trộn, để các cháu phát triển bình thường về tâm, sinh lý nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, giao cháu Lý Anh K (nam), sinh ngày 24/4/2013, Lý Anh K1 (nam), sinh ngày 13/9/2007 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu K, K1 đủ 18 tuổi. Ghi nhận sự tự nguyện của bà H không yêu cầu ông T thực hiện cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với cháu Lý Thị Bé N (Nữ), sinh ngày 04/11/2003 đã trưởng tHnh có khả năng tự đi làm để nuôi sống bản thân đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung: Bà H khẳng định tự thỏa thuận phân chia với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về nợ chung: Bà H khẳng định nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Từ những phân tích nêu trên, xét yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Bà H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ong Thị H đối với bị đơn ông Lý T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Ong Thị H được ly hôn với ông Lý T.
- Về con chung: Giao con chung là cháu Lý Anh K (Nam), sinh ngày 24/4/2013 và cháu Lý Anh K1 (Nam), sinh ngày 13/9/2007 cho bà H được tiếp tục, trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu K, K1 đủ 18 tuổi và cũng theo nguyện vọng của cháu Lý Anh K, Lý Anh K1, nếu cha mẹ không còn chung sống với nhau, cháu K, K1 có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của bà H không yêu cầu ông T phải thực hiện cấp dưỡng nuôi con; Đối với cháu Lý Thị Bé N, sinh ngày 04/11/2003 đã trưởng tHnh đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Ông Lý T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Ông T không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các cháu Lý Anh K, Lý Anh K1 của bà H thì bà H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom.
- Về tài sản chung: Bà H khẳng định tự thỏa thuận phân chia với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về nợ chung: Bà H khẳng định nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
2/ Về án phí sơ thẩm: Bà Ong Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai số 0002355 ngày 24/3/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, bà H đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp án phí. Ông Lý T không phải chịu án phí sơ thẩm.
3/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi Hnh theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi Hnh án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi Hnh án dân sự, người phải thi Hnh án dân sự có quyền thỏa thuận thi Hnh án, quyền yêu cầu thi Hnh án, tự nguyện thi Hnh án hoặc bị cưỡng chế thi Hnh án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi Hnh án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi Hnh án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi Hnh án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ST (Phòng KTNV&THA); - VKSND thị xã Vĩnh Châu; - Đương sự; - Chi cục THADS thị xã Vĩnh Châu; - UBND phường H; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Dương Chiêu Hùng |