- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ông Nguyễn Ngọc M và bà Võ Thị N"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc M.
- Căn cứ chính? Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2022/HNGĐ-ST Ngày 29-4-2022 V/v Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thanh Mai
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hà Văn Trường
2. Ông Nguyễn Văn Hải
- Thư ký phiên toà: Ông Khuất Cao Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hiên – Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 4 năm 2022, tại Trụ sở tòa án nhân dân thành phố Vũng
Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 77/HNGĐST ngày 20 tháng 01 năm 2022, về việc “Tranh chấp ly hôn” , theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2022/QĐST-HNGĐ ngày 28-3-2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1982; Địa chỉ: 17/19A1 đường Ngô Đức Kế, Phường 7, thành phố Vũng Tàu , tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (có mặt).
Bị đơn: Bà Võ Thị N, sinh năm 1991; Địa chỉ: 134/5 đường Hoàng Hoa Thám, Phường 2, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (có mă ̣t).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06/01/2022 – Nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc M trình bày:
Ông M và bà Võ Thị N tự nguyê ̣n chung sống va đăng ky kết hôn ta ̣i Ủ y
̀
́ ban nhân dân phường 7, thành phố Vũng Tàu vào năm 2018. Trong thờ i gian chung sống vớ i nhau , ông M và bà N có 01 con chung là Nguyễn Ngọc Nhân , sinh ngày 03-9-2018. Ông M cho rằng thờ i gi an đầu vợ chồng chung sống vớ i nhau ha ̣nh phúc nhưng đến đầu năm 2021 vợ chồng thườ ng xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không tim được tiếng nói chung, không hiểu
̀
nhau và không còn quan tâm đến nhau nữa . Qúa trình chung sống, bà N có những hành vi không chuẩn mực như uống rượu say rồi chửi bới, quậy phá ông M và bố mẹ ông M. Ông M xác định, hiê ̣n nay ông không còn tinh cảm vớ i bà
̀ N, cuô ̣c sống hôn nhân không ha ̣nh phúc và vợ chồng đa sỗ ́ng ly thân nhau được mô ̣t thờ i gian, vì vậy ông M yêu cầu được ly hôn vớ i bà Võ Thị N.
Về con chung: Ông M và bà N có 01 con chung là Nguyễn Ngọc Nhân , sinh ngày 03-9-2018. Ông M nhường quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nhân cho bà N và ông M cấp dưỡng nuôi cháu Nhân 2.500.000đ/tháng kể từ ngày quyết định có hiệu lực đến khi cháu Nhân đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về án phi HNGĐST: Ông M tự nguyê ̣n nô ̣p
́
Bị đơn bà Võ Thị N trình bày:
Bà N thống nhất với lời trình bày của ông M về thời gian, điều kiện kết hôn. Bà N cũng xác nhận trong thời gian chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn. Tuy nhiên, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn thì không như ông M trình bày, cụ thể là: Vào tháng 10-2021, bà N bị hư thai, bà N phải trải qua nhiều đau khổ nhưng ông M lại không quan tâm, bỏ mặc bà N. Trước đó vợ chồng cũng có nhiều lần cãi nhau, ông M cũng có dùng vũ lực đánh đập bà N nhưng bà N đã bỏ qua. Nay ông M yêu cầu ly hôn bà N không đồng ý vì bà vẫn còn tình cảm với ông M.
Về con chung: Ông M và bà N có 01 con chung là Nguyễn Ngọc Nhân , sinh ngày 03-9-2018. Trường hợp ly hôn, bà N có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nhân và không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết
Các bên đương sự không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới cũng như không yêu cầu Tòa án triệu tập thêm người làm chứng hoặc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về vụ án.
Tại phiên Tòa:
Ông M vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình.
Bà N vẫn giữ nguyên ý kiến là không đồng ý ly hôn vì thương con và vẫn còn tình cảm với ông M. Về con chung: bà N có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nhân vì ông M không nuôi và đồng ý mức cấp dưỡng nuôi con là 2.500.000 đồng/tháng. Về tài sản chung và nợ chung: bà N xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu phát biểu quan điểm về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, thư kí, HĐXX đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Trong thời kỳ hôn nhân, ông M và bà N phát sinh mâu thuẫn và hiện nay đã ly thân, không cùng chung sống với nhau, ông M xác định không còn tình cảm với bà N và cương quyết ly hôn . Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông M; Về con chung: ông M và bà N có 01 con chung là Nguyễn Ngọc Nhân , sinh ngày 03-9-2018. Bà N có nguyện vọng trực tiếp nuôi con và ông M đồng ý. Vì vậy, giao cháu Nhân cho bà N trực tiếp chăm sóc và ông M cấp dưỡng nuôi cháu Nhân 2.500.000đ/tháng kể từ ngày quyết định có hiệu lực đến khi cháu Nhân đủ 18 tuổi.; Về tài sản chung, nợ chung: ông M và bà N không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tu ̣ng:
Ông Nguyễn Ngọc M có đơn khởi kiện về “Ly hôn” với bà Võ Thị N, có nơi cư trú tại thành phố Vũng Tàu nên xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nô ̣i dung:
Về hôn nhân: Xét ông Nguyễn Ngọc M và bà Võ Thị N tự nguyê ̣n chung sống va đăng ky kết hôn ta ̣i Ủ y ban nhân dân ph ường 7, thành phố Vũng
̀
́ Tàu vào ngày 29-11-2018, như vậy hôn nhân giữa ông M và bà N là hợp pháp.
Thờ i gian đầu , ông M và bà N chung sống vớ i nhau ha ̣nh phúc và có 01 con chung, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn gia đình ông M và bà N trình bày có khác nhau nhưng mâu thuẫn là có thâ ̣t. Bà N không đồng ý ly hôn nhưng bản thân bà N cũng xác định, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn đã lâu, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn được. Tòa đã cố gắng hòa giải, tạo điều kiện để ông bà có thời gian suy nghĩ lại nhưng không có kết quả, do ông M cương quyết ly hôn và xác định tình cảm vợ chồng không còn, níu kéo chỉ làm khó và khổ nhau. Bà N không đồng ý ly hôn, nhưng bản thân bà cũng xác định chưa có biện pháp nào hiệu quả để hàn gắn, cải thiện mối quan hệ rạn nứt và giải quyết mâu thuẫn vợ chồng.
Xét thấy, mục đích của hôn nhân không đơn thuần chỉ là việc hai người cùng sống chung trong một mái nhà, hoặc chỉ cần tồn tại quan hệ vợ chồng bằng một văn bằng pháp lý là giấy chứng nhận kết hôn, mà ở đó là hai con người cùng chung mục đích phấn đấu để phát triển gia đình, cùng chung một khát khao xây dựng gia đình hạnh phúc, nuôi dạy con cái trưởng thành, nên người. Xét quan hệ vợ chồng của ông M và bà N không còn sự đồng cảm, tôn trọng, quan tâm, chia sẻ buồn vui cùng nhau, thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã thậm chí xô xát, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, hôn nhân không thể kéo dài, mục đích và những căn cứ để hôn nhân cần tồn tại không còn. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông M, xử ông M ly hôn vớ i bà N.
Về con chung : ông M và bà N có 01 con chung là Nguyễn Ngọc
Nhân, sinh ngày 03-9-2018. Bà N có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Nhân và ông M đồng ý. Vì vậy, giao cháu Nhân cho bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông M có quyền đến thăm nom , chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo du ̣c con chung không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con : ông M cấp dưỡng nuôi cháu Nhân 2.500.000đ/tháng kể từ ngày quyết định có hiệu lực đến khi cháu Nhân đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông M và bà N xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Ông M phải nộp án phí hôn nhân gia đình là 300.000 đồng và nộp án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc M.
1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Ngọc M và bà Võ Thị N ly hôn.
2. Về con chung: Ông M và bà N có 01 con chung là Nguyễn Ngọc Nhân, sinh ngày 03-9-2018. Giao cháu Nhân cho bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Ông M có quyền đến thăm nom , chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo du ̣c con
chung không ai được cản trở.
Trên cơ sở lợi ích của các con, trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình,Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: ông M cấp dưỡng nuôi cháu Nhân 2.500.000đ/tháng kể từ ngày quyết định có hiệu lực đến khi cháu Nhân đủ 18 tuổi.
Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên có nghĩa vụ cấp dưỡng chậm thực hiện nghĩa vụ, thì hàng tháng phải trả thêm cho bên được thi hành án khoản tiền lãi, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm thực hiện nghĩa vụ.
4. Về tài sản chung, nợ chung: Ông M và bà N xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
5. Về án phi : Ông Nguyễn Ngọc M nộp án phí hôn nhân gia đình là
́ 300.000 đồng và nộp án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001693 ngày 19-01-2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu. Như vậy, ông M còn phải nộp số tiền 300.000 đồng.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh BR-VT -VKSND TP. Vũng Tàu -THADS TP. Vũng Tàu -UBND P7, TP.VT; -Các đương sự -Lưu hồ sơ | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thanh Mai |