vanban.org

Bản án 37/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị K đƣợc ly hôn anh Vũ Văn H

Về án phí: Chị Bùi Thị K phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, đƣợc đối trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2020/0004520 ngày 13/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng. Về quyền kháng cáo:… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NĐ: Chị Bùi Thị K- BĐ: Vũ Văn H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị K đƣợc ly hôn anh Vũ Văn H
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2022/HNGĐ-ST
Ngày 21-9-2022
“V/v: Ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Hải và bà Nguyễn Thị Hoan

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thanh Huyền- Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 136/2022/TLST - HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2022 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 29/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2022/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 9 năm 2022 giữa các đƣơng sự;

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị K, sinh năm 1977; ĐKHKTT: thôn M, xã V, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng. Chỗ ở hiện nay: phố Q, xã N, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng

- Bị đơn: Anh Vũ Văn H, sinh năm 1971; Điạ chỉ: Thôn M, xã V, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng

- Người làm chứng: Chị Vũ Thị L, sinh năm 1995

ĐKHKTT: thôn M, xã V, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng;

Chỗ ở hiện nay: Ngõ 3.., đƣờng G, phƣờng G, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội.

Chị K có mặt, anh H, chị L vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và các tài liệu khác có tại hồ sơ, nguyên đơn chị Bùi Thị K trình bày:

+ Về hôn nhân: Chị và anh Vũ Văn H đƣợc tự do tìm hiểu, tự nguyện, chung sống với nhau trƣớc từ năm 1995, sau đó mới đi đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng ngày 04/04/1997. Sau kết hôn, anh chị chung sống cùng bố mẹ anh H ở thôn M, xã V. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đƣợc khoảng 20 năm thì xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau trong cách sống, sinh hoạt, cũng nhƣ cách làm ăn phát triển kinh tế gia đình, bất đồng quan điểm. Bên cạnh đó, anh H mải chơi lô đề cờ bạc dẫn đến nợ nần nhiều, nhiều ngƣời đến đòi nợ. Mặc dù chị và gia đình đã khuyên bảo động viên nhƣng sau một thời gian anh H tiếp tục báo thêm khoản nợ lên đến gần 1 tỷ đồng dẫn đến không có khả năng trả nợ. Dân xã hội kéo đến đòi nợ, gây áp lực, hắt dầu nhớt, mắm tôm vào nhà khiến cuộc sống vô cùng áp lực. Do không thể chịu đựng cuộc sống không hạnh phúc, bị áp lực nhiều nên đầu năm 2022, chị đã chuyển ra ngoài đi thuê nhà sống một mình và làm công nhân. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị đƣợc ly hôn anh H để hai bên sớm ổn định cuộc sống.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Vũ Thị L, sinh ngày 10/10/1995 và anh Vũ Chí D, sinh ngày 22/10/2000. Các con chung đều đã trƣởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng có tài sản chung là nhà đất nhƣng để cho con ở, nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh H, do anh H không có mặt ở địa phƣơng nên Tòa án đã niêm yết, tống đạt các văn bản tố tụng cho ngƣời thân nhƣng anh H không đến làm việc và cũng không có bất cứ ý kiến nào bằng văn bản gửi cho Tòa án. Kết quả làm việc với chị Vũ Thị L (là con của anh H, chị K) đƣợc cung cấp: Bố mẹ chị đƣợc tự do tìm hiểu tự nguyện, tiến tới hôn nhân, đƣợc hai bên gia đình tổ chức lễ cƣới theo phong tục địa phƣơng, có đăng ký kết hôn theo luật định. Sau khi lấy nhau, bố mẹ chị ở riêng và chung sống hạnh phúc, hòa thuận đến năm 2020 thì xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do không hợp nhau về cách sống, sinh hoạt, bất đồng quan điểm. Đặc biệt bố chị chơi bời lô đề dẫn đến nợ nần, nhiều ngƣời đến đòi nợ. Từ đó mà bố mẹ chị thƣờng xuyên sinh ra cãi vã, ngƣời cho vay gây áp lực, hắt dầu luyn vào nhà để yêu cầu trả nợ. Do không thể chịu đựng đƣợc cuộc sống không có hạnh phúc, bị gây áp lực liên tục từ việc đòi nợ nên mẹ chị phải chuyển ra ngoài đi thuê nhà ở và đi làm công nhân. Bố chị đi làm xây dựng tự do ở dƣới TP Hải Phòng, thỉnh thoảng có về khi có công việc rồi lại đi, chị có hỏi địa chỉ nhƣng bố chị không cung cấp. Bố mẹ chị đã sống ly thân từ đầu năm 2022, không còn quan tâm gì đến nhau. Sau khi mẹ chị làm đơn xin ly hôn, chị có gọi điện, nhắn tin cho bố chị biết để về dàn xếp chuyện tình cảm nhƣng bố có quan điểm mặc kệ mẹ chị thích làm gì thì làm. Là phận làm con, ai cũng muốn bố mẹ hạnh phúc, là chỗ dựa cho con cháu sau này. Tuy nhiên bố mẹ chị có ở đƣợc với nhau hay không là do bố mẹ chị quyết định.

- Kết quả làm việc với đại diện UBND xã và đại diện các đoàn thể, trƣởng thôn M, xã V đều đƣợc cung cấp: Anh H, chị K đƣợc tự do tìm hiểu, tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại UBND xã ngày 04/4/1997. Sau khi kết hôn, anh H, chị K sinh sống cùng bố mẹ anh H ở cùng thôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đƣợc thời gian dài thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do khoảng 03 đến 04 năm trở lại đây, anh H chơi bời lô đề cờ bạc dẫn đến nợ nần số tiền rất lớn, chán nản với cuộc sống chung không hạnh phúc, bị áp lực nợ nần nhiều nên cách đây khoảng 06 đến 07 tháng, chị K đã ra ngoài đi thuê nhà ở và đi làm, anh H cũng đi làm xây dựng tự do nay đây mai đó. Ở nhà chỉ còn mẹ anh H đã già yếu, nặng tai. Anh H đi làm tự do ở đâu, địa phƣơng không nắm bắt đƣợc, anh H vẫn có đăng ký hộ khẩu thƣờng trú tại địa phƣơng. Nay chị K xin ly hôn anh H, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Vợ chồng có hai con chung nhƣng đã trƣởng thành nên Tòa án không phải giải quyết.

Tại phiên toà, chị K xin đề nghị giải quyết vắng mặt và vẫn giữ nguyên quan điểm đã trình bày, anh H đã đƣợc triệu tập hợp lệ tham gia phiên Tòa lần thứ 2 nhƣng vẫn vắng mặt, không có lý do.

Đại diện VKSND huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa và của những ngƣời tham gia tố tụng đến trƣớc thời điểm HĐXX nghị án và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228; Điều 147 BLTTDS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ... án phí và lệ phí Toà án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Bùi Thị K đƣợc ly hôn anh Vũ Văn H; Về tài sản chung: chị K không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Chị K phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật;

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Vũ Văn H đƣợc Toà án triệu tập đến tham gia phiên toà hợp lệ lần thứ 2 nhƣng đều vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt anh H.

Về hôn nhân: Chị Bùi Thị K và anh Vũ Văn H kết hôn với nhau trên cơ sở đƣợc tự do tìm hiểu, tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 04/4/1997 là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, vợ chồng hạnh phúc, hoà thuận đƣợc thời gian dài, đến vài năm gần đây thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do không hợp nhau trong cách sống, sinh hoạt, vợ chồng bất đồng quan điểm. Theo chị K trình bày và UBND xã V và các đoàn thể địa phƣơng cung cấp: Do anh H chơi bời dẫn đến nợ nần nhiều, nhiều ngƣời đến đòi nợ nên vợ chồng thƣờng xẩy ra xô xát cãi vã, to tiếng, do anh H nợ không trả đƣợc nên bị hắt mắm tôm, dầu luyn vào nhà khiến cuộc sống của chị K rất áp lực, sợ hãi. Từ đầu năm 2022, chị K đã phải dọn ra ngoài đi thuê nhà ở, anh H đi làm tự do nay đây mai đó, vợ chồng ly thân từ đó đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Căn cứ vào các tài liệu Toà án thu thập đƣợc xác định anh H hiện vẫn đăng ký hộ khẩu thƣờng trú tại thôn M, xã V, hiện đang đi làm tự do ở TP Hải Phòng. Chị K đã cung cấp chính xác địa chỉ của bị đơn tại thời điểm khởi kiện và đã đƣợc UBND xã V xác nhận đƣợc coi là đã ghi đúng địa chỉ của bị đơn theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên khi anh H đi làm ăn nơi khác gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của vợ chồng nhƣng không thông báo cho chị K biết về nơi cƣ trú, làm việc mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật Dân sự đƣợc coi là cố tình giấu địa chỉ, gây khó khăn cho chị K trong việc ly hôn. Từ khi Toà án thụ lý vụ án đến nay, mặc dù anh H biết Tòa án đang giải quyết vụ án ly hôn theo yêu cầu của chị K nhƣng anh H cũng không về Toà án để làm việc, tham gia hoà giải theo các văn bản đã đƣợc Toà án giao cho ngƣời thân, chứng tỏ anh H không có thiện chí đoàn tụ, chị K vẫn cƣơng quyết ly hôn. Nhƣ vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa chị K, anh H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đƣợc, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị K đƣợc ly hôn anh H là phù hợp với Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình để hai bên sớm ổn định cuộc sống.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Vũ Thị L, sinh ngày 10/10/1995 và anh Vũ Chí D, sinh ngày 22/10/2000. Các con chung đều đã trƣởng thành nên Toà án không phải giải quyết.

Về tài sản chung, vay nợ chung: chị K không yêu cầu nên Toà án không giải quyết.

Về án phí: Chị Bùi Thị K khởi kiện vụ án hôn nhân gia đình nên phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ...án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 227, Điều 228; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ... án phí và lệ phí Toà án.

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị K đƣợc ly hôn anh Vũ Văn H

2. Về án phí: Chị Bùi Thị K phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, đƣợc đối trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2020/0004520 ngày 13/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

3. Về quyền kháng cáo: Chị K, anh H đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết./.

Cỡ chữ