vanban.org

Bản án 37/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh S và chị T.

Về án phí: Anh S phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 4448 ngày 26 tháng 11 năm 2020 của Cơ quan thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa anh S với chị T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh S và chị T.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ MỸ THO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 08/4/2022
V/v: “Ly hôn giữa anh S với chị T

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Vĩnh Lộc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thùy Trang

2. Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Phạm Vân Trang - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho

Ngày 08 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 455/2021/TLST - HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2021 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2022/QĐXXST - DS ngày 15 tháng 02 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh S, sinh năm 1979; Địa chỉ: ấp H, xã L, huyện Đ, tỉnh A

2. Bị đơn: Chị T, sinh năm 1987; Địa chỉ: tổ 1 ấp 3, xã A, TP. M, tỉnh G

Anh S có mặt, chị T vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 10 tháng 11 năm 2021 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn anh S trình bày:

- Về hôn nhân: anh và chị T cưới nhau vào năm 2017 và có đăng ký kết hôn vào năm 2017. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến giữa năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh đi làm xa, vợ chồng thiếu sự chia sẻ cho nhau, bất đồng quan điểm sống, tình cảm vợ chồng dần không còn. Anh và chị T đã ly thân từ cuối năm 2020 đến nay. Nay anh thấy vợ chồng không còn hạnh phúc và không thể hàn gắn được nên anh yêu cầu ly hôn với chị T.

- Về con chung: Không có

- Về tài sản chung: Không có

- Về nợ chung: Không có

- Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị T biết để tham gia phiên tòa theo quy định nhưng chị T vẫn không có mặt để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, cũng không cung cấp chứng cứ hoặc có ý kiến bằng văn bản phản hồi về việc anh S khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Anh S có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn với chị T nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị T có nơi cư trú tại ấp 3, xã Trung An, thành phố Mỹ Tho nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Anh S và chị T cưới nhau vào năm 2017, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Lân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An vào năm 2017 là phù hợp với Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn theo anh S khai là do anh đi làm xa, vợ chồng thiếu sự chia sẻ cho nhau, bất đồng quan điểm sống, tình cảm vợ chồng dần không còn và vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2020 đến nay.

Tại phiên tòa hôm nay anh S vẫn giữ yêu cầu ly hôn với chị T. Xét thấy chị T đã được Tòa án triêu tập đến để hòa giải đoàn tụ nhưng chị vẫn vắng mặt không có lý do, cho thấy phía chị T không có thiện chí nhằm hàn gắn tình cảm vợ chồng, th i gian sống ly thân giữa anh S và chị T đã kéo dài mà không giải quyết được mâu thuẫn. Hội đồng xét xử xét thấy đ i sống hôn nhân giữa anh S và chị T đã lâm vào tình trạng trầm tr ng, mục đích của hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh S, cho anh S ly hôn với chị T là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Anh S khai không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét

Về tài sản chung và nợ chung: Anh S và chị T không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Anh S phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh S và chị T.

2. Về án phí: Anh S phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 4448 ngày 26 tháng 11 năm 2020 của Cơ quan thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho

3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì th i hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ