- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi Văn T và đồng phạm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Các bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2021/HSST Ngày: 16-7-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoài Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Bá Lịch.
2. Ông Phan Văn Hưng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Hải Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Hiếu - Kiểm sát viên
Ngày 16/7/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2021/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 62/2021/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2021 đối với các bị cáo:
1. Vi Văn T, tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1993 tại huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Bản X, xã CTh, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 6/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vi Văn M và bà Vi Thị X; Có vợ là Lim Thị Th và 02 con; Tiền án - Tiền sự: Chưa có; Bị tạm giữ từ ngày 17/12/2020 và tạm giam từ ngày 26/12/2020 cho đến nay; Có mặt.
2. Vi Văn D, tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1996 tại huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Bản X, xã CTh, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 4/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vi Văn Ng và bà Vi Thị H; Có vợ là Lữ Thị T và 01 con; Tiền án - Tiền sự: Chưa có; Bị tạm giữ từ ngày 17/12/2020 và tạm giam từ ngày 26/12/2020 cho đến nay; Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Thủy. Trợ giúp viên pháp lý. Chi nhánh số 2 - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào chiều ngày 15/12/2020, trong khi đang tham gia ăn uống tại nhà mình thì Vi Văn T rủ Vi Văn D cùng góp tiền để đi mua ma túy về sử dụng, D đồng ý và đưa cho T số tiền 300.000đ. Đến chiều ngày 16/12/2020, T một mình đi lên khu vực cầu CT thuộc xã CT, huyện Quỳ Châu gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết một gói ma túy với giá 600.000đ rồi đi về nhà. Sáng ngày 17/12/2020, Vi Văn T lấy một ít ma túy ra để sử dụng, một lúc sau thì D đến và T có đưa cho D một ít ma túy sử dụng và hẹn D tối cùng ngày đến để chia ma túy. Khoảng 18 giờ 10 phút ngày 17/12/2020, khi T đang ở nhà chia ma túy thành các gói nhỏ thì có Vi Văn Đ và Vi Văn Th đi đến và xin T ma túy để sử dụng thì T đồng ý cho Đ và Th một ít ma túy. Lợi dụng lúc T không để ý thì Th và Đ đã đi vào bếp của nhà T để sử dụng ma túy. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, tổ công tác Công an các xã CTh và CT đã tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện bắt quả tang và thư giữ của Vi Văn T 09 gói ma túy và 01 lưỡi dao lam dùng để cắt ma túy. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, do nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của bản thân nên Vi Văn D đã đến đầu thú với Công an xã CTh.
Tại bản Kết luận giám định số 6/KL-PC09(Đ2-MT) ngày 25/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Chín mẫu chất rắn màu trắng (Ký hiệu từ M1 đến M9) thu giữ của Vi Văn T và Vi Văn D gửi tới giám định đều là ma túy (Heroin), có tổng khối lượng là 1,93g.
Cơ quan điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ của người đàn ông bán ma túy cho Vi Văn T nên không có cơ sở để xử lý.
Cáo trạng số 26/CT-VKS-HS ngày 05/4/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu đã quyết định truy tố các bị cáo Vi Văn T và Vi Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Vi Văn Th và Vi Văn Đ, cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Châu đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với việc Vi Văn Th và Vi Văn Đ sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của Vi Văn T, quá trình điều tra xác định Vi Văn T không biết các đói tượng Th và Đ sử dụng trái phép ma túy tại nhà mình nên không đủ căn cứ để xử lý.
Tại phiên tòa, đại diện VKS thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như nội dung Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 BLHS. Xử phạt Vi Văn T từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.
- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 - khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 BLHS. Xử phạt Vi Văn D từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù.
- Tịch thu tiêu hủy 01 lưỡi dao lam số Heroin còn lại. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo và buộc các bị cáo phải chịu án phí HSST.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Nhất trí với tội danh và điều luật như viện dẫn của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị xử phạt Vi Văn T từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù, Vi Văn D từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung truy tố của Cáo trạng và không có ý kiến gì trong phần tranh luận. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong giai đoạn điều tra và truy tố đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau: Vào ngày 15/12/2020, Vi Văn T và Vi Văn D đã bàn bạc cùng nhau góp tiền để T đi tìm mua mua túy về sử dụng chung và D đã đưa cho T số tiền 300.000đ. Ngày 16/12/2020, T đã đi lên khu vực cầu CT thuộc xã CT, huyện Quỳ Châu mua được của một người đàn ông không quen biết một gói Heroin với giá 600.000đ. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 17/12/2020, khi Vi Văn T đang ở nhà chia gói Heroin ra thành nhiều gói nhỏ thì bị Công an bắt quả tang và thu giữ số ma túy cùng 01 chiếc lưỡi lam.
Thấy rằng lời khai của các bị cáo tại phiên tòa và trong quá trình điều tra là thống nhất với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa. Các bị cáo đã có hành vi tàng trữ ma túy với mục đích để sử dụng. Vì vậy, các bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS đúng như nội dung truy tố của Cáo trạng.
[2.2] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng. Các bị cáo có đủ nhận thức để biết rằng các loại ma túy nói chung và Heroin nói riêng là chất gây nghiện được Nhà nước thống nhất quản lý, nghiêm cấm hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Các bị cáo là người nghiện ma túy nhưng không thật sự có ý thức cai nghiện để từ bỏ ma túy mà còn tìm mua ma túy để sử dụng nhằm thỏa mãn cơn nghiện. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm và lên cho các bị cáo một mức hình phạt tương xứng nhằm răn đe, cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện giáo dục các bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội.
Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội có tính chất đồng phạm và bị cáo Vi Văn T là người có vai trò chính. Bị cáo T là người đã khởi xướng, rủ rê Vi Văn D tham gia thực hiện hành vi phạm tội. Ngoài ra, bị cáo T là người đã trực tiếp thực hiện hành vi mua ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo Vi Văn T nghiêm khắc hơn so với các bị cáo D.
Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo. Bị cáo Vi Văn D sau khi nhận thức được hành vi của bản thân vi phạm pháp luật nên đã đầu thú tại cơ quan có thẩm quyền. Đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 - khoản 2 Điều 51 BLHS để xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình.
[2.3] Hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo điều kiện kinh tế khó khăn và không có tài sản. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[2.4] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Châu đã thu giữ của các bị cáo 1,93g Heroin và 01 chiếc lưỡi lam.
Đối với số Heroin đã trích 0,61 gửi giám định, còn lại 1,32g Heroin cùng vỏ bao niêm phong vật chứng, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc lưỡi lam là công cụ Vi Văn T dùng để cắt chia ma túy, cần tịch thu tiêu hủy.
[3] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 BLHS. Xử phạt Vi Văn T 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2020.
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 - khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 BLHS. Xử phạt Vi Văn D 02 (Hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2020.
- Căn cứ điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 1,32g Heroin cùng vỏ bao niêm phong vật chứng và 01 chiếc lưỡi lam. (Tất cả có đặc điểm như mô tả trong Biên bản giao, nhận vật chứng được lập vào hồi 10 giờ 15 phút ngày 05/4/2021 giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu).
- Căn cứ Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14. Buộc Vi Văn T và Vi Văn D mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST
- Các bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND; Công an; THADS H.Quỳ Châu; - VKSND, Trại tạm giam CA tỉnh Nghệ An; - Bị cáo; Người bào chữa; - Phòng KTNV-TAND tỉnh Nghệ An; - Lưu HSVA. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hoài Nam |