- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lại Đức Duy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lại Đức D (B) phạm tội “Mua bán trái phép C ma túy”. Bị cáo Chung Băng L phạm tội “Vận cHển trái phép C ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 250 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2021/HS-ST Ngày: 23-9- 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán– Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Thanh Tùng
Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Bình
Các Hội thẩm nhân dân:1. Bà Lê Thị Kim Oanh
2. Bà Nguyễn Thị Hồng Minh
3. Bà Lê Thị Đổi
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mến– Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Sự – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2021/TLST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2021/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 9 năm 2021 đối với các bị cáo:
1. Lại Đức D (B); sinh ngày 07 tháng 6 năm 1988 tại Thành phố Hồ Chí M; nơi cư trú: số 110/21, đường Ông Ích K, Phường 5, Quận 11, Thành Phố Hồ Chí M; chỗ ở: số 39/3, đường Nguyễn Văn D, tổ 24, khu phố 3, Phường 6, Quận 5, Thành phố Hồ Chí M; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lại Đức V (cH) và bà Trần Thị Bích N; vợ, con chưa có; Tiền án, tiền sự: không có; nhân thân: ngày 04-4-2017 bị Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép C ma túy” thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14-9-2016. Ngày 01-02-2018 chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của bản án (đã xóa án); bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23-6-2020 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Chung Băng L; sinh ngày 13 tháng 5 năm 1992 tại tỉnh Đồng T; nơi cư trú: số 138, khóm Bình H, thị trấn Lấp V, Hện Lấp V, tỉnh Đồng T; chỗ ở: số 177E, đường Nguyễn Văn L, Phường 11, Quận 6, Thành phố Hồ Chí M; nghề nghiệp: chạy xe ôm; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chung Văn L1 và bà Nguyễn Thị H; vợ, con chưa có; Tiền án, tiền sự: không có; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23-6-2020 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo:
1. Ông Nguyễn Văn C – Luật sư của Văn phòng luật sư Nguyễn Văn C thuộc đoàn luật sư tỉnh Tây Ninh, bào chữa cho bị cáo Lại Đức D, có mặt.
2. Ông Nguyễn Văn S – Luật sư của Công ty luật trách nhiệm hữu hạn Bách khoa chi nhánh Tây Ninh thuộc đoàn luật sư tỉnh Tây Ninh, bào chữa cho bị cáo Chung Băng L, có mặt.
Người có quyền lợi liên quan: chị Lại Trần Ngọc M, sinh năm 1996; địa chỉ: 110/21, Ông Ích K, Phường 5, Quận 11, Thành phố Hồ Chí M, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn Bến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 23-6-2020 tại số nhà 29A, khu phố Hiệp T, phường Hiệp T1, thị xã H Thành, tỉnh Tây Ninh; Công an thị xã H Thành bắt quả tang Chung Băng L thu giữ trong túi xách gồm: 02 bịch nylon bên trong có chứa C tinh thể màu trắng (ký hiệu M1), tiền Việt Nam 1.000.000 (một triệu) đồng và phương tiện, đồ vật có liên quan. Đến 18 giờ 20 phút ngày 23-6-2020 Công an thị xã H Thành phối hợp với Công an Phường 6, Quận 5, Thành phố Hồ Chí M tiến hành bắt khẩn cấp và khám xét chỗ ở của Lại Đức D, tạm giữ 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng tiền Việt Nam, 02 điện thoại di động và thu giữ trong phòng ngũ của D gồm:
- 01 (một) bịch nylon chứa C tinh thể mịn màu trắng (ký hiệu M2).
- 04 (bốn) bịch nylon chứa C tinh thể màu trắng (ký hiệu M3.1).
- 01 (một) bịch nylon chứa C tinh thể màu trắng (ký hiệu M3.2).
- 01 (một) hộp nhựa có nắp màu hồng chứa C tinh thể màu trắng (ký hiệu M4).
- 01 (một) bịch nylon chứa 240 (hai trăm bốn mươi) viên nén màu cam (ký hiệu M 5.1).
- 01(một) bịch nylon chứa 240 (hai trăm bốn mươi) viên nén màu xanh (ký hiệu M 5.2).
- 01(một) bịch nylon chứa 30 (ba mươi) viên nén màu tím (ký hiệu M 5.3).
- 01(một) bịch nylon chứa 16 (mười sáu) viên nén màu trắng (ký hiệu M 5.4).
- 01(một) bịch nylon chứa 05 (năm) viên nén màu hồng (ký hiệu M 6.1).
- 01(một) bịch nylon chứa 19 (mười chín) viên nén màu hồng (ký hiệu M 6.2).
- 01 (một) bịch nylon chứa 13 (mười ba) viên nén màu xanh (ký hiệu M 6.3).
Tại kết luận giám định số: 946/KL-KTHS ngày 30-6-2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận:
- Mẫu ký hiệu M1 là C ma túy, là loại Methamphetamine, khối lượng 149,4708 gam (một trăm bốn mươi chín phẩy bốn bảy không tám gam).
- Mẫu ký hiệu M3.1 là C ma túy, là loại Methamphetamine, khối lượng 48,2179 gam (bốn mươi tám phẩy hai một bảy chín gam).
- Mẫu ký hiệu M5.1 là C ma túy, là loại Methamphetamine, MDMA và Ketamine, khối lượng 117,7866 gam (một trăm mười bảy phẩy bảy tám sáu sáu gam).
- Mẫu ký hiệu M5.2 là C ma túy, là loại Methamphetamine, MDMA và Ketamine, khối lượng 66,0791gam (sáu mươi sáu phẩy không bảy chín một gam).
- Mẫu ký hiệu M5.3 là C ma túy, là loại Methamphetamine, MDMA khối lượng 11,0154gam (mười một phẩy không một năm bốn gam).
- Mẫu ký hiệu M6.1 là C ma túy, loại MDMA khối lượng 1,7590 gam (một phẩy bảy năm chín không gam).
- Mẫu ký hiệu M6.2 là C ma túy, là loại Methamphetamine, Ketamine và Horoine, khối lượng 5,7208 gam (năm phẩy bảy hai không tám gam).
- Mẫu ký hiệu M 6.3 là C ma túy, là loại Methamphetamine và Ketamine, khối lượng 4,2556 gam (bốn phẩy hai năm năm sáu gam).
Các mẫu có ký hiệu M2, M3.2, M4, M5.4 không phải là C ma túy.
Lại Đức D và Chung Băng L khai nhận: tháng 02 năm 2020 bị cáo D bắt đầu mua bán trái phép C ma túy, D thuê bị cáo L vận cHển ma túy giao cho người mua. S ngày 23-6-2020 có một người tên Tí (không rõ nhân thân) đang ở chung với Nguyễn Văn H (Tửng Mập) tại số 29A, khu phố Hiệp T, phường Hiệp T1, thị xã H Thành liên lạc qua mạng xã hội Zalo hỏi mua 20.000.000 đồng ma túy đá thì D đồng ý; khoảng 12 giờ cùng ngày, bị cáo D điện thoại kêu bị cáo L đến nhận ma túy và tiền công là 1.000.000 đồng để mang đến giao cho Tí nhưng chưa giao được thì bị bắt quả tang. Ngoài ra D còn khai bán trái phép C ma túy cho Nguyễn Anh H 05 lần đều do L mang đi giao. Việc D mua bán trái phép C ma túy L không Bết. Nguyễn Anh H không thừa nhận có mua ma túy của D.
Tại Bản cáo trạng số 16/CT-VKS-P1 ngày 12 tháng 7 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Lại Đức D (B) về tội “Mua bán trái phép C ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Chung Băng L về tội “Vận cHển trái phép C ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 250 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án: giữ nguyên bản cáo trạng truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm h khoản 4 Điều 251; khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lại Đức D 20 năm tù về tội “Mua bán trái phép C ma túy”, phạt bổ sung bị cáo Lại Đức D số tiền từ 10.000.000đồng đến 20.000.000đồng; căn cứ điểm b khoản 4 Điều 250, điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Chung Băng L từ 17 đến 18 năm tù về tội “Vận cHển trái phép C ma túy”.
Bện pháp tư pháp: đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, luật sư Nguyễn Văn C bào chữa cho bị cáo D trình bày: tại phiên tòa bị cáo D thừa nhận hành vị phạm tội của mình, khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội mua bán trái phép C ma túy là có căn cứ; Kiểm sát viên đã xem xét toàn diện các tình tiết của vụ án và đề nghị xử phạt bị cáo 20 năm tù là phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo.
Luật sư Nguyễn Văn S bào chữa cho bị cáo L trình bày: về tội danh thống nhất với bản cáo trạng của Viện kiểm sát; bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ đó là khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra để bắt bị cáo D; bị cáo bị bệnh tim. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại Điều 54 của Bộ luật hình sự.
Lời nói sau cùng các bị cáo D, L xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa các bị cáo Lại Đức D và Chung Băng L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với Bên bản khám nghiệm hiện T, bản ảnh hiện T, kết luận giám định, vật chứng vụ án, lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận: vì mục đích tư lợi Lại Đức D đã mua 404,3052 gam ma túy, cụ thể: 197,6887 gam loại Methamphetamine; 183,8657 gam loại Methamphetamine, MDMA và Ketamine; 11,0154gam loại Methamphetamine, MDMA; 1,7590 gam loại MDMA; 5,7208 gam loại Methamphetamine, Ketamine và Horoine; 4,2556 gam loại Methamphetamine và Ketamine của người tên Rô (không rõ nhân thân, địa chỉ) để bán lại kiếm lời. S ngày 23-6-2020 có một người tên Tí (không rõ nhân thân) đang ở chung nhà với Nguyễn Văn H (Tửng Mập) tại số 29A, khu phố Hiệp T, phường Hiệp T1, thị xã H Thành liên lạc qua mạng xã hội Zalo hỏi mua 20.000.000 đồng ma túy đá thì bị cáo D đồng ý; khoảng 12 giờ cùng ngày bị cáo D điện thoại kêu bị cáo L đến nhận ma túy (loại Methamphetamine, khối lượng 149,4708 gam) và 1.000.000 đồng tiền công để mang đến giao cho Tí nhưng chưa giao được thì bị bắt quả tang. Bị cáo L không Bết bị cáo D mua bán ma túy. Hành vi nêu trên của các bị cáo có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lại Đức D phạm tội “Mua bán trái phép C ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Chung Băng L phạm tội “Vận cHển trái phép C ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 250 của Bộ luật Hình sự. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ.
Vụ án mang tính C đặc Bệt nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc Bệt nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về các C ma túy. Các bị cáo Bết rõ việc mua bán, vận cHển trái phép C ma túy pháp luật cấm, nhưng vì tư lợi cho cá nhân nên các bị cáo bất chấp pháp luật; hành vi phạm tội của các bị cáo gây hậu quả đặc Bệt nghiêm trọng cho xã hội, là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác, nên cần xử lý nghiêm khắc theo quy định của pháp luật mới có tác dụng giáo dụng và phòng ngừa.
Khi quyết định hình phạt có xem xét:
Đối với bị cáo D có nhân thân xấu, cụ thể năm 2017 bị Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép C ma túy”, sau khi chấp hành xong hình phạt bị cáo không ăn năn hối cải mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Đối với bị cáo L có nhân thân tốt, là người vận cHển thuê ma túy cho bị cáo D để hưởng tiền công. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị
Các Bện pháp tư pháp: căn cứ Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 06 gói ma túy đã được niêm phong của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, trong đó gói 01 có khối lượng 139,5900 gam, gói 02 có khối lượng 19,8783 gam, gói 03 có khối lượng 43,9091 gam, gói 04 có khối lượng 98,8154 gam, gói 05 có khối lượng 184,0522 gam, gói 06 có khối lượng 8,2270 gam là vật cấm lưu hành; 01 bình thủy tinh, 02 ống hút nhựa, 10 bịch ny lon loại bóp dính miệng là công cụ dùng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, số I mei 1: 357160081960115 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh đen, số I mei 1: 353248116419316 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Iphoone màu đen, số I mei 1: 354451063425729 đã qua sử dụng; 01 cân điện tử màu đỏ trắng có chữ Marllono đã qua sử dụng; 01 máy ép nhựa màu xanh; tiền Việt Nam 21.000.000 đồng là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lại Đức D (B) phạm tội “Mua bán trái phép C ma túy”. Bị cáo Chung Băng L phạm tội “Vận cHển trái phép C ma túy”.
2. Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lại Đức D (B)
năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23-6-2020.
3. Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 2 Điều 54 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Chung Băng L
năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23-6-2020.
4. Các Bện pháp tư pháp: căn cứ Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 06 gói ma túy đã được niêm phong của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, trong đó gói 01 có khối lượng 139,5900 gam, gói 02 có khối lượng 19,8783 gam, gói 03 có khối lượng 43,9091 gam, gói 04 có khối lượng 98,8154 gam, gói 05 có khối lượng 184,0522 gam, gói 06 có khối lượng 8,2270 gam ; 01 bình thủy tinh, 02 ống hút nhựa, 10 bịch ny lon loại bóp dính miệng.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, số I mei 1: 357160081960115 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh đen, số I mei 1: 353248116419316 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Iphoone màu đen, số I mei 1: 354451063425729 đã qua sử dụng; 01 cân điện tử màu đỏ trắng có chữ Marllono đã qua sử dụng; 01 máy ép nhựa màu xanh; tiền Việt Nam 21.000.000 đồng.
5. Về án phí: căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Lại Đức D (B), Chung Băng L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
6. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, báo cho các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí M. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phan Thanh Tùng
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -Vụ GĐKT1 -TANDCC; -VKSNDCC; -VKSND tỉnh Tây Ninh; -VP CQCSĐT CA tỉnh; -Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh; -THADS tỉnh Tây Ninh; -Trại tạm giam; -Công an cấp xã nơi bị cáo cư trú; -Bị cáo; -Những người tham gia tố tụng khác; -Lưu hồ sơ; -Lưu tập án. Vụ: truy tố về tội “Mua bán trái phép C ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 251 BLHS. cHển trái phép C ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 250 BLHS. cư trú: số 110/21, đường Ông Ích K, Phường 5, Quận 11, Thành Phố Hồ Chí M; chỗ ở: số 39/3, đường Nguyễn Văn D, tổ 24, khu phố 3, Phường 6, Quận 5, Thành phố Hồ Chí M; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lại Đức V (cH) và bà Trần Thị Bích N; vợ, con chưa có; Tiền án, tiền sự: không có; nhân thân: ngày 04-4-2017 bị Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép C ma túy” thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14-9-2016. Ngày 01-02-2018 chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của bản án (đã xóa án); bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23-6-2020 cho đến nay. số 138, khóm H Bình, thị trấn Lấp V, Hện Lấp V, tỉnh Đồng T; chỗ ở: số 177E, đường Nguyễn Văn L, Phường 11, Quận 6, Thành phố Hồ Chí M; nghề nghiệp: chạy xe ôm; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chung Văn L1 và bà Nguyễn Thị H; vợ, con chưa có; Tiền án, tiền sự: không có; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23-6-2020 cho đến nay. Người bào chữa cho bị cáo: đoàn luật sư tỉnh Tây Ninh, bào chữa cho bị cáo Lại Đức D. khoa chi nhánh Tây Ninh thuộc đoàn luật sư tỉnh Tây Ninh, bào chữa cho bị cáo Chung Băng L, có mặt. 110/21, Ông Ích K, Phường 5, Quận 11, Thành phố Hồ Chí M. NỘI DUNG VỤ ÁN: được tóm tắt như sau: T1, thị xã H Thành, tỉnh Tây Ninh, Công an thị xã H Thành bắt quả tang Chung Băng L có hành vi vận cHển trái phép C ma túy, thu giữ trong túi xách gồm: 02 bịch nylon bên trong có chứa C tinh thể màu trắng (ký hiệu M1), tiền Việt Nam 1.000.000 (một triệu) đồng và phương tiện, đồ vật có liên quan. phối hợp với Công an Phường 6, Quận 5, Thành phố Hồ Chí M tiến hành bắt khẩn cấp đối với Lại Đức D, tạm giữ 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng tiền Việt Nam và 02 điện thoại di động; khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lại Đức D tại địa chỉ 39/3, đường Nguyễn Văn D, khu phố 3, Phường 6, Quận 5, Thành phố Hồ Chí M, thu giữ trong phòng ngũ của D gồm nhiều C ma túy khác nhau. hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: gam (số ma túy này do D giao cho L vận cHển). Số ma túy còn lại thu giữ trong phòng ngũ của bị cáo D, gồm: gam (bốn mươi tám phẩy hai một bảy chín gam). Ketamine, khối lượng 117,7866 gam (một trăm mười bảy phẩy bảy tám sáu sáu gam). Ketamine, khối lượng 66,0791gam (sáu mươi sáu phẩy không bảy chín một gam). 11,0154gam (mười một phẩy không một năm bốn gam). bảy năm chín không gam). Horoine, khối lượng 5,7208 gam (năm phẩy bảy hai không tám gam). lượng 4,2556 gam (bốn phẩy hai năm năm sáu gam). Các mẫu có ký hiệu M2, M3.2, M4, M5.4 không phải là C ma túy. trái phép C ma túy, Bết L là người chạy xe ôm nên thuê L vận cHển ma túy giao cho người mua. S ngày 23-6-2020 có một người tên Tí (không rõ nhân thân, địa chỉ) đang ở chung với Nguyễn Văn H (Tửng Mập) tại số 29A, khu phố Hiệp T, phường Hiệp T1, thị xã H Thành liên lạc qua mạng xã hội Zalo hỏi mua 20.000.000 đồng ma túy đá thì D đồng ý; đến 12 giờ cùng ngày, D điện thoại kêu L đem ma túy đến giao cho Tí và tiền công là 1.000.000 đồng; khi L vận cHển ma túy đến nhà số 29A, khu phố Hiệp T, phường Hiệp T1, thị xã H Thành thì bị bắt quả tang. Ngoài ra D còn khai bán trái phép C ma túy cho Nguyễn Anh H 05 lần đều do L mang đi giao. Việc D mua bán trái phép C ma túy L không Bết. Nguyễn Anh H không thừa nhận có mua ma túy của D. Quan điểm của Thẩm phán: 1. Về tội danh: nghiệm hiện T, kết luận giám định, vật chứng vụ án, lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận: vì mục đích tư lợi bị cáo D đã mua 404,3052 gam ma túy để bán lại kiếm lời thì bắt quả tang. theo điểm h khoản 4 Điều 251 BLHS là có căn cứ. cHển ma túy cho D 06 lần để giao cho H (Tửng Mập), trong đó lần đầu tiên H mở ra bị cáo Bết đó là ma túy, nên các lần vận cHển sau bị cáo Bết đó là ma túy. Việc mua bán ma túy giữa D và H bị cáo không Bết. Các lời khai ban đầu bị cáo D khai đã giao ma túy cho L vận cHển 06 lần, việc D bán ma túy bị cáo L Bết. Trong điện thoại bị cáo L có tin nhắn có nội dung “ Bị cáo D hỏi bị cáo L H có trả tiền không”. của bị cáo L không phạm tội “Vận cHển trái phép C ma túy” mà phạm tội “Mua bán trái phép C ma túy”. Đề nghị thay đổi tội danh là “Mua bán trái phép C ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 251 BLHS. 2. Về hình phạt: Chung thân. Methamphetamine. Đề nghị xử phạt 20 năm tù. 3. Về vật chứng: tịch thu tiêu hủy gồm: bình thủy, ống hút… 1.000.000 đồng tiền công vận cHển ma túy. em ruột bị cáo) đưa cho bị cáo để đóng tiền viện phí cho cha bệnh ung thư, nhưng chưa đóng bị thu giữ. M khai phù hợp với bị cáo. Đề nghị tuyên trả. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thanh Tùng BÁO CÁO ÁN HÌNH SỰ SƠ THẨM - Lại Đức D (B); sinh ngày 07 tháng 6 năm 1988; bị VKSND tỉnh Tây Ninh - Chung Băng L; sinh năm 1992; bị VKSND tỉnh Tây Ninh truy tố về tội “Vận 1. Lại Đức D (B); sinh ngày 07 tháng 6 năm 1988 tại Thành phố Hồ Chí M; nơi 2. Chung Băng L; sinh ngày 13 tháng 5 năm 1992 tại tỉnh Đồng T; nơi cư trú: 1. Ông Nguyễn Văn C – Luật sư của Văn phòng luật sư Nguyễn Văn C thuộc 2. Ông Nguyễn Văn S – Luật sư của Công ty luật trách nhiệm hữu hạn Bách Người có quyền lợi liên quan: chị Lại Trần Ngọc M, sinh năm 1996; địa chỉ: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn Bến tại phiên tòa, nội dung vụ án Khoảng 15 giờ ngày 23-6-2020 tại số nhà 29A, khu phố Hiệp T, phường Hiệp Mở rộng điều tra, lúc 18 giờ 20 phút ngày 23-6-2020 Công an thị xã H Thành Tại kết luận giám định số: 946/KL-KTHS ngày 30-6-2020 của Phòng kỹ thuật - Mẫu ký hiệu M1 là C ma túy, là loại Methamphetamine, khối lượng 149,4708 - Mẫu ký hiệu M3.1 là C ma túy, là loại Methamphetamine, khối lượng 48,2179 - Mẫu ký hiệu M5.1 là C ma túy, là loại Methamphetamine, MDMA và - Mẫu ký hiệu M5.2 là C ma túy, là loại Methamphetamine, MDMA và - Mẫu ký hiệu M5.3 là C ma túy, là loại Methamphetamine, MDMA khối lượng - Mẫu ký hiệu M6.1 là C ma túy, loại MDMA khối lượng 1,7590 gam (một phẩy - Mẫu ký hiệu M6.2 là C ma túy, là loại Methamphetamine, Ketamine và - Mẫu ký hiệu M 6.3 là C ma túy, là loại Methamphetamine và Ketamine, khối Lại Đức D và Chung Băng L khai nhận: tháng 02 năm 2020 D bắt đầu mua bán - Căn cứ Bên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang,Bên bản khám - VKSND tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo D về tội “Mua bán trái phép C ma túy” - Đối với L: các lời khai ban đầu trong quá trình điều tra bị cáo L khai đã vận Theo điểm quy định tại 3.2, 3.3 mục 3 Phần II của TTLT số 17/2007 thì hành vi - Khối lượng ma túy bị cáo D mua bán là 404,3052 gam, đề nghị xử phạt tù - Khối lượng ma túy bị cáo D giao cho bị cáo L mang đi bán là 149,4708 gam, Tịch thu sung quỹ 03 điện thoại di động (bị cáo L 01 cái, bị cáo D 02 cái) và Riêng 20.000.000 đồng thu giữ của bị cáo D: bị cáo khai do Lại Trần Ngọc M ( Người báo cáo Phan Thanh Tùng |