- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn H phạm tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn H phạm tội:“Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG ẢNG TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2021/HS-ST Ngày: 09-3-2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG ẢNG - TỈNH ĐIỆN BIÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Tòng Văn Tọt
2. Bà: Nguyễn Thúy Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà: Hoàng Thị Hồng Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Duy Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2021/ TLST-HS, ngày 05 tháng 02 năm 2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2021/QĐXXST – HS ngày 25 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn H; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1986 tại huyện MA, tỉnh Điện Biên; Nơi ĐKNKTT: Bản T, xã MĐ, huyện MA, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản T, xã MĐ, huyện MA, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 9/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Lò Văn C, sinh năm 1927 và bà Lò Thị A (đã chết); Bị cáo có vợ: Lò Thị H, sinh năm: 1986 và 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm: 2007; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị tạm giam, giữ từ ngày 10/12/2020 cho đến ngày xét xử, bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Tòng Văn B, sinh năm 1964.
Nơi cư trú: Bản L, xã AN, huyện MA, tỉnh Điện Biên. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì hành vi phạm tội của Lò Văn H được tóm tắt như sau:
Lò Văn H biết rõ xe mô tô do Lò Văn L trộm cắp mà có nhưng vì hám lợi đã cùng Quàng Văn T tháo dỡ xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe SIRIUS, BKS: 27B1-298.37 màu đen đỏ, trị giá 7.500.000 đồng của ông Tòng Văn B đi bán các bộ phận lấy tiền tiêu sài.
Quá trình điều tra đã làm rõ: Trong tháng 5/2020 Lò Văn H sang nhà Quàng Văn T, sinh năm: 1990, trú cùng Bản T, xã MĐ, huyện MA chơi. Khi sang nhà T, H có gặp Lò Văn L, sinh năm: 1997 trú cùng bản. T đang nói chuyện về chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe SIRIUS, BKS: 27B1-298.37 màu đen đỏ, giá trị 7.500.000 đồng của ông Tòng Văn B sinh năm: 1964 trú tại Bản L, xã AN, huyện MA,Lò Văn Ltrộm cắp ngày 03/5/2020 hiện đang cắm tại nhà Lò Văn H1, sinh năm: 1983 trú bản X, xã MĐ. Khi nghe thấy Thiên nói như vậy, H đã bàn với Lợi và Thiên chuộc xe về để H mang đi bán tại thành phố Điện Biên Phủ. L và T nhất trí. Ngày hôm sau L xin được của mẹ đẻ là Cà Thị D 1.150.000 đồng rồi đến nhà Lò Văn H1 chuộc xe, Lợi trả cho anh Hạnh số tiền 1.100.000 đồng và lấy xe mang đến nhà cho Lò Văn H. Tại gầm sàn nhà chị gái H là Lò Thị H, H và T đã cùng nhau tháo rời chiếc xe máy mục đích để bán. Khi nghe H nói giờ mang bán các bộ phận của xe cũng được vài trăm, T đã thỏa thuận và đưa cho H 400.000 đồng để lấy các bộ phận của xe mô tô. H nhất trí và nhận 400.000 đồng của T rồi bắt xe xuống Hà nội làm thuê và bỏ trốn khỏi địa bàn, CQĐT công an huyện MA ra quyết định truy nã. Ngày 10/12/2020 H bị Công an tỉnh Điện Biên bắt.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 05/KL-HĐĐGTS ngày 10/6/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện MA đã kết luận: 01 mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe SIRIUS, BKS: 27B1-298.37 màu sơn đen đỏ đưa vào sử dụng tháng 6/2015, tại thời điểm định giá tháng 5/2020 trị giá thành tiền là 7.500.000đồng.
Ngày 11/6/2020 và ngày 05/8/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện MA ra Quyết định khởi tố vụ án và Quyết định khởi tố bị can đối với Lò Văn H về tội: Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, Hồng đã đi khỏi địa phương. Ngày 07/8/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Ảng ra Quyết định truy nã bị can Lò Văn H; Ngày 08/8/2020 Cơ quan điều tra công an huyện Mường Ảng ra Quyết định tách vụ án hình sự đối với Lò Văn H về tội: Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Ảng ra Quyết định đình nã vào ngày 10/12/2020 đối với Lò Văn H; ngày 11/12/2020 ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự và Quyết định phục hồi điều tra bị can Lò Văn H.
Ngày 23/9/2020 Tòa án huyện Mường Ảng đã ra bản án số 50/2020/HSST ngày 23/9/2020 đối với các bị cáo Lò Văn L, Quàng Văn T(Tên khác: Quàng Văn K, Quàng Văn T).
Tại phiên tòa ông Tòng Văn B – bị hại trình bày về bồi thường đã được giải quyết bằng bản án 50/2020/HSST ngày 23/9/2020 và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về trách nhiệm dân sự. Về hình phạt đề nghị hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại Cáo trạng số: 14/CT-VKSMA ngày 04 tháng 2 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Lò Văn H về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật đã áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng Khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lò Văn H từ 08 tháng đến 10 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết bằng bản án số 50/2020/HSST ngày 23/9/2020. Bị hại không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét;
Về vật chứng: Áp dụng điểm b Khoản 1 điều 47 BLHS; điểm b khoản 2 điều 106 BLTTHS truy thu xung quỹ nhà nước số tiền 400.000đ của Lò Văn H.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015 và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí đề nghị miễn án phí HSST cho bị cáo.
Lời nói sau cùng Lò Văn H nhận phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Nội dung vụ án: Lò Văn H biết rõ xe mô tô do Lò Văn L trộm cắp mà có nhưng vì hám lợi đã cùng Quàng Văn Ttháo dỡ xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe SIRIUS, BKS: 27B1-298.37 màu đen đỏ, trị giá 7.500.000đồng của ông Tòng Văn B đi bán các bộ phận lấy tiền tiêu sài.
Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, phù hợp nội dung Kết luận điều tra và Cáo trạng. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lò Văn H về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 BLHS như Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng truy tố và kiểm sát viên luận tội là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do đó có đủ cơ sở để kết luận hành vi của Lò Văn H về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
. Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến phong trào phòng chống các tệ nạn xã hội ở địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
3]. Xét tính chất, vai trò của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo không có sự phân công và bàn bạc cụ thể mà bộc phát nẩy sinh phạm tội, trong đó Lò Văn L là người trộm cắp tài sản, Lò Văn H, Quàng Văn T đều là người thực hành tích cực trong việc tiêu thụ tài sản. Bị cáo Lò Văn L, Quàng Văn T đã bị xét xử tại bản án số 50/2020/HSST ngày 23/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng.
. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại xã MĐ, huyện MA, tỉnh Điện Biên được bố mẹ nuôi ăn học hết lớp 9/12. Đến tuổi trưởng thành kết hôn với chị Lò Thị H, sinh năm 1986 và có với nhau 02 người con Bị cáo Lò Văn H vì hám lợi nên đi vào con đường phạm tội. Bị cáo đang ở độ tuổi lao động nhưng do thiếu ý thức rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, lười lao động để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên đã bất chấp pháp luật, đi vào con đường phạm tội. Trong quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, bố bị cáo là ông Lò Văn C được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên Hội đồng xét xử cần đưa ra mức án thật nghiêm khắc, để cải tạo giáo dục bị cáo và cũng là cơ hội để bị cáo cai nghiện chất ma túy trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Bị cáo H không có tình tiết tăng nặng quy định tại điều 52 của BLHS.
Theo khoản 5 Điều 323 quy định bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung bằng tiền. Tuy nhiên, xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo khó khăn, thu nhập chủ yếu từ làm ruộng nên không có khả năng thi hành; vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát xét thấy phù hợp nên hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
. Trong quá trình điều tra, truy tố thấy rằng: Các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết bằng bản án số 50/2020/HSST ngày 23/9/2020; Ông Lò Văn B không yêu cầu bồi thường gì thêm nên hội đồng xét xử không xem xét.
. Về vật chứng: Hội đồng xét xử thấy rằng: Số tiền 400.000đ của Lò Văn H do phạm tội mà có, đã tiêu sài cá nhân hết nên cần phải truy thu sung quĩ nhà nước.
01 chìa khóa L dùng mở khóa xe mô tô; 02 vành xe mô tô; bộ dụng cụ T, H dùng tháo các bộ phận của xe mô tô, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Ảng đã tiến hành truy tìm và thông báo truy tìm không có kết quả để thu thập nên HĐXX không xem xét.
. Về án phí: Bị cáo Lò Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Nhưng bị cáo là người dân tộc tiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
. Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn H phạm tội:“Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Lò Văn H 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10 tháng 12 năm 2020.
2. Về vật chứng: Áp dụng điểm b Khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS truy thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 400.000đ của Lò Văn H.
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn H.
4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, bị hai được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh Điện Biên; - VKS tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện MA; - Chi cục THADS huyện MA; - STP tỉnh Điện Biên; - Công an huyện MA; - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu hs; | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Thị Vân |