- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Hoàng Thị L, bị cáo Hoàng Kim S mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sun…"
- Tòa quyết gì? I. Căn cứ điểm b, điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 37/2021/HS-ST Ngày 15-12-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Mạnh Đức
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phan Văn Trường
Bà Dương Thị Hồng Linh
- Thư ký phiên toà: Bà Hà Lan Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Lương Vĩnh Nguyên - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 12 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2021/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2021; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2021/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2021, đối với các bị cáo:
1. Hoàng Thị L, sinh ngày 15-10-1966; tại xã Đ, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn T, xã Đ, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Tày; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Công P và bà Lương Thị N1; chồng Hoàng Công L; con: Có 02 người con, con lớn sinh năm 1987, con nhỏ sinh năm 1993; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 27/4/2006, Hoàng Thị L bị Công an thành phố Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) về hành vi Đánh bạc, bị cáo đã chấp hành xong. Tại Bản án số 126/2006 ngày 21/12/2006 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt bị cáo Hoàng Thị L 12 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, đến ngày 27/12/2014 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương. Đến ngày 08/12/2017 đã đương nhiên được xóa án theo quy định. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 14/6/2021 đến nay. Có mặt.
2. Hoàng Kim S, sinh ngày 03-5-1971; tại xã Đ, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn L, xã Đ, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Kim P và bà Hoàng Thị L; vợ Dương Thị T; con: Có 01 người con sinh năm 2001; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 14/6/2021 đến nay. Có mặt.
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Khắc C, sinh năm 1981.
Địa chỉ: Khối phố P, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
2. Anh Hoàng Trung K, sinh năm 1997.
Địa chỉ: Khối phố N, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
3. Anh Hoàng Tuấn C1, sinh năm 2000.
Địa chỉ: Khối phố L, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
4. Anh Nguyễn Hồng V, sinh năm 1972.
Địa chỉ: Khối phố L, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
5. Anh Hoàng Doãn N, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Thôn V1, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
6. Chị Lương Thị N1, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Thôn H, xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
+ Người chứng kiến:
1. Ông Hoàng Văn V1, sinh năm 1956.
Địa chỉ: Thôn L, xã Đ, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
2. Ông Hoàng Công B, sinh năm 1975.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
3. Anh Hoàng Công T, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 40 ngày 14/6/2021,Tổ công tác Công an huyện Bắc Sơn phát hiện 02 đối tượng là Hoàng Trung K, sinh năm 1997, trú tại khối phố N, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn và Hoàng Tuấn C1, sinh năm 2000, trú tại Khối phố L, thị trấn B, huyện B đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại thôn T, xã Q, huyện B, thu giữ của K 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, dạng bàn phím, máy cũ đã qua sử dụng, căn cứ lời khai của các đối tượng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Sơn tiến hành khám xét khẩn cấp người, nơi ở đối với bị cáo Hoàng Kim S, sinh năm 1971, trú tại Thôn L, xã Đ, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, qua khám xét đã tạm giữ 01 điện thoại di động, số tiền 180.000 đồng (một trăm tám mươi nghìn đồng) và 08 (tám) gói giấy nhỏ bên trong đựng chất bột màu trắng (nghi là ma túy Heroine), qua đấu tranh bị cáo Hoàng Kim S khai nhận số ma túy trên là do bị cáo Hoàng Thị L, sinh năm 1966, trú tại Thôn Đ, xã Đ, huyện B cho. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Sơn tiếp tục tiến hành khám xét khẩn cấp người, nơi ở đối với bị cáo Hoàng Thị L, qua khám xét thu giữ 02 (hai) gói nilon bên trong đựng chất cục bột màu trắng (nghi là ma túy Heroine) được cất giấu trong chiếc gối để trên giường ngủ của bị cáo Hoàng Thị L, số tiền 1.225.000 đồng (một triệu hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng), 01 cân điện tử, 03 điện thoại di động: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu ITEL, màu đen, dạng bàn phím, số IMEI1: 355149113382846; 01 (một) Điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, loại máy Reno2F, số IMEI 1: 869778040409733, số IMEI 2: 869778040409725; 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, loại máy Reno5, số IMEI 1: 865545058881556, số IMEI 2: 86554505888154 và 73 (bẩy mươi ba) tờ giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Sơn đã ra Quyết định Trưng cầu giám định trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn giám định tang vật thu giữ được. Tại kết luận giám định số 221/KL-PC09 ngày 16/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: “Chất bột màu trắng thu giữ của Hoàng Kim S gửi giám định là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng 0,093 gam (đã trừ bì); Chất bột màu trắng thu giữ của Hoàng Thị L gửi giám định là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng 5,883 gam (đã trừ bì)”.
Quá trình điều tra làm rõ được như sau:
Khoảng 13 giờ 00 ngày 10/6/2021, bị cáo Hoàng Thị L đi xe ô tô khách từ nhà xuống khu vực bến xe khách cũ thành phố T, tỉnh Thái Nguyên với mục đích tìm mua ma túy Heroine về để bán lại cho người khác kiếm lời, tại đây bị cáo Hoàng Thị L đã tìm và mua với một người đàn ông không quen biết với giá 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) rồi đem ma túy Heroine về nhà cất giấu vào trong phòng ngủ của mình. Khoảng 13 giờ 00 ngày 14/6/2021 bị cáo Hoàng Thị L đi bộ từ nhà ra chợ chiều thuộc thôn L, xã Đ, huyện B để mua hoa quả thì gặp bị cáo Hoàng Kim S đang đứng ở cửa nhà. Khi nhìn thấy bị cáo Hoàng Thị L thì lúc này bị cáo Hoàng Kim S đang lên cơn nghiện ma túy Heroine nhưng không có chỗ để mua, biết bị cáo Hoàng Thị L thường có nhiều ma túy Heroine nên bị cáo Hoàng Kim S đã gọi cho bị cáo Hoàng Thị L vào nhà của mình rồi xin bị cáo Hoàng Thị L cho một ít ma túy để sử dụng, do có mối quan hệ quen biết từ lâu và biết bị cáo Hoàng Kim S nghiện chất ma túy Heroine, hơn nữa bị cáo Hoàng Kim S đã xin nhiều lần nhưng bị cáo Hoàng Thị L không cho. Nên lần này bị cáo Hoàng Thị L đồng ý rồi về nhà lấy ma túy Heroine của mình chia một phần nhỏ ra mảnh giấy hút ẩm màu vàng của bao thuốc lá rồi gói lại đem đến cho bị cáo Hoàng Kim S, phần ma túy còn lại thì bị cáo Hoàng Thị L cất giấu vào trong gối ở phòng ngủ của mình. Sau khi đem ma túy cho bị cáo Hoàng Kim S xong thì bị cáo Hoàng Thị L về nhà sau đó đi sang nhà hàng xóm chơi. Sau khi xin được ma túy với bị cáo Hoàng Thị L, bị cáo Hoàng Kim S lấy ma túy ra sử dụng hết một phần, còn lại chia ra làm 10 gói nhỏ để sử dụng dần và bán lại cho người nghiện khác để kiếm lời. Khoảng 14 giờ 00 ngày 14/6/2021 Hoàng Trung K và Hoàng Tuấn C1 là hai đối tượng nghiện ma túy Heroine đã rủ nhau góp tiền mỗi người 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) để mua ma túy về sử dụng. Do đã từng mua ma túy với bị cáo Hoàng Kim S nên Hoàng Trung K điện thoại gọi cho bị cáo Hoàng Kim S nói “anh có không để em hai trăm” thì bị cáo Hoàng Kim S, sau đó Hoàng Trung K và Hoàng Tuấn C1 đến nhà bị cáo Hoàng Kim S, khi đến nơi Hoàng Tuấn C1 đứng đợi ở ngoài cửa sổ còn Hoàng Trung K trực tiếp vào mua 02 gói ma túy Heroine với bị cáo Hoàng Kim S với giá 200.000 đông (hai trăm nghìn đồng), sau khi mua ma túy, trả tiền xong thì Hoàng Trung K và Hoàng Tuấn C1 đem ma túy vừa mua được ra khu vực cầu T thuộc thôn T, xã Q, huyện B sử dụng thì bị Công an huyện Bắc Sơn phát hiện. Căn cứ lời khai của Hoàng Trung K và Hoàng Tuấn C1, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Sơn tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở và thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với bị cáo Hoàng Kim S và bị cáo Hoàng Thị L và thu giữ nhiều vật chứng có liên quan như đã nêu ở trên.
Quá trình điều tra cũng đã làm rõ được, ngoài việc cho ma túy bị cáo Hoàng Kim S, bị cáo Hoàng Thị L còn nhiều lần bán trái phép chất ma túy cho các đối tượng nghiện khác, cụ thể như sau:
Lần 1: Khoảng 20 giờ 00 ngày 12/5/2021 bị cáo Hoàng Thị L tìm và mua được ma túy Heroine với một người đàn ông không quen biết tại khu vực bến xe khách cũ thành phố T, tỉnh Thái Nguyên với giá 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) với mục đích đem về bán lại cho người nghiện khác để kiếm lời. Sau khi mua được ma túy, bị cáo Hoàng Thị L đem về nhà cất giấu đến khoảng 19 giờ 30 ngày 17/5/2021 có Nguyễn Khắc C, sinh năm 1981, trú tại: Khối phố P, thị trấn B, huyện B, gọi điện thoại cho bị cáo Hoàng Thị L hỏi mua ma túy thì bị cáo Hoàng Thị L đồng ý, một lúc sau tại chân đèo Tam Canh thuộc thôn L, xã Đ, huyện B, bị cáo Hoàng Thị L đã bán cho Lương Thị N1, sinh năm 1995, trú tại thôn H, xã Y, huyện B (là người yêu của Chiến) 01 túi nilon bên trong có chứa chất ma túy Heroine với giá 2.400.000 đồng (hai triệu bốn trăm nghìn đồng) rồi cả hai ra về, Lương Thị N1 đưa túi ma túy Heroine cho Nguyễn Khắc C và sau đó Nguyễn Khắc C đã sử dụng hết số ma túy này.
Lần 2: Khoảng 19 giờ 00 ngày 05/6/2021 Nguyễn Khắc C gọi điện thoại cho bị cáo Hoàng Thị L hỏi mua ma túy thì bị cáo Hoàng Thị L đồng ý, sau đó tại khu vực cổng nghĩa trang liệt sỹ thuộc xã Q, huyện B, bị cáo Hoàng Thị L đã bán cho Nguyễn Hồng V, sinh năm 1972, trú tại: Khối phố L, thị trấn B, huyện B (V là bạn của C và cũng là con nghiện) 01 túi nilon bên trong có chứa chất ma túy Heroine với giá 5.500.000 đồng (năm triệu năm trăm nghìn đồng) rồi cả hai ra về. Nguyễn Hồng V đem túi ma túy Heroine vừa mua được cho Nguyễn Khắc C và sau đó Nguyễn Khắc C đã sử dụng hết số ma túy này.
Quá trình điều tra đã làm rõ thêm, ngoài lần thực hiện hành vi phạm tội ngày 14/6/2021, bị cáo Hoàng Kim S còn thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy nhiều lần khác, cụ thể như sau:
Lần 1: Ngày 15/4/2021, bị cáo Hoàng Kim S đi xe ô tô khách từ nhà xuống khu vực bến xe khách cũ thành phố T, tỉnh Thái Nguyên mua 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) ma túy Heroine với một người đàn ông không quen biết. Sau khi mua ma túy về bị cáo Hoàng Kim S tự sử dụng một phần, còn lại chia thành 02 gói nhỏ để bán lại cho người khác kiếm lời. Khoảng 11 giờ 00 ngày 16/4/2021, cũng tại nhà của mình bị cáo Hoàng Kim S đã bán cho Hoàng Trung K 01 (một) gói ma túy Heroine với giá 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng), sau đó Hoàng Trung K đem ma túy về nhà sử dụng hết.
Lần 2: Khoảng 19 giờ 00 ngày 16/4/2021, tại nhà ở của mình bị cáo Hoàng Kim S bán cho Hoàng Doãn N, sinh năm 1979, trú tại Thôn H2, thị trấn B, huyện B 01 (một) gói ma túy Heroine với giá 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng), sau đó Hoàng Doãn N đem ma túy về nhà sử dụng hết.
Bản Cáo trạng số: 34/CT-VKSBS-HS ngày 03/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố các bị cáo Hoàng Thị L phạm vào tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b, điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Hoàng Kim S phạm vào tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn vẫn giữ nguyên quan điểm như trong bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét:
Về hình phạt: Áp dụng điểm b, điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; tuyên bố bị cáo Hoàng Thị L phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, đề nghị mức án từ 09 năm đến 09 năm 06 tháng tù giam;
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; tuyên bố bị cáo Hoàng Kim S phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, đề nghị mức án từ 07 năm đến 08 năm tù giam;
Đề nghị không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 2, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ số ma túy Heroine thu giữ tại nhà bị cáo Hoàng Thị L và bị cáo Hoàng Kim S; tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền do phạm tội mà có; truy thu số tiền các bị cáo đã hưởng lợi bất chính. Tuyên tịch thu hóa giá sung công quỹ đồ vật, điện thoại liên quan đến hành vi phạm tội; tuyên trả cho các bị cáo và chủ sở hữu hợp pháp những tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, của Cơ quan điều tra Công an huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn và của Kiểm sát viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn; trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo xuất trình tài liệu, chứng cứ theo quy định của pháp luật; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về căn cứ buộc tội: Tại phiên toà các bị cáo Hoàng Thị L và bị cáo Hoàng Kim S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người chứng kiến và cũng phù hợp với các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, cụ thể: Bị cáo Hoàng Thị L đã bán trái phép chất ma túy 02 lần cho đối tượng nghiện là Nguyễn Khắc C vào các ngày 17/5/2021 với số tiền là 2.400.000 đồng (hai triệu bốn trăm nghìn đồng) và ngày 05/6/2021 với số tiền 5.500.000 đồng (năm triệu năm trăm nghìn đồng). Bị cáo Hoàng Thị L đã cho bị cáo Hoàng Kim S một ít ma túy để sử dụng, bị cáo Hoàng Kim S đã dùng số ma túy xin được này vừa sử dụng vừa để bán trái phép, ngoài ra bị cáo Hoàng Kim S còn đi xuống thành phố T, tỉnh Thái Nguyên mua ma túy trái phép về để vừa sử dụng vừa để bán. Bị cáo Hoàng Kim S đã bán trái phép chất ma túy 03 lần vào các ngày 16/4/2021 bán cho Hoàng Trung K và Hoàng Doãn N mỗi người một gói ma túy với giá 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) một gói; ngày 14/6/2021 bị cáo Hoàng Kim S đã bán trái phép 02 gói ma túy với giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) cho Hoàng Trung K và Hoàng Tuấn C1 chung tiền nhau để mua. Ma túy thu giữ của bị cáo Hoàng Kim S gửi giám định là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng 0,093 gam (đã trừ bì); ma túy thu giữ của bị cáo Hoàng Thị L gửi giám định là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng 5,883 gam (đã trừ bì)”.
Như vậy có đủ căn cứ kết luận bị cáo Hoàng Thị L đã phạm vào tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b, điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Hoàng Kim S đã phạm vào tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của các bị cáo Hoàng Thị L và Hoàng Kim S gây ra là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý độc quyền của Nhà nước về chất gây nghiện ma túy Heroine; như vậy cần phải xử các bị cáo một mức án nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để răn đe và phòng ngừa chung.
Đây là vụ án không có đồng phạm, các bị cáo phạm tội độc lập được xét xử trong cùng một vụ án. Các bị cáo đều là người trực tiếp thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy cho người khác. Để có một bản án đúng người, đúng tội và đúng với hành vi của từng bị cáo cần đánh giá, mức độ, tính chất, nhân thân của từng bị cáo.
Về nhân thân: Các bị cáo đều là người khỏe mạnh, có thể chất phát triển bình thường, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy Heroine là vi phạm pháp luật; do muốn kiếm lời từ việc bán ma túy Heroine các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo Hoàng Thị L và bị cáo Hoàng Kim S không có. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự là tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo; bị cáo Hoàng Thị L có bố, mẹ đẻ là ông Hoàng Công P và bà Lương Thị N đều được Chủ tịch nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tặng thưởng huân, huy chương kháng chiến. Bị cáo Hoàng Kim S có bố đẻ là ông Hoàng Kim P được Chủ tịch nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng thưởng huân chương kháng chiến; vì vậy cho các bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo tốt. Bị cáo Hoàng Kim S là người có nhân thân tốt; đối với bị cáo Hoàng Thị L không có tiền án, tiền sự; nhưng trước đó đã có hành vi phạm tội như vậy đánh giá là nhân thân không tốt. Trong vụ án này cả hai bị cáo đều bị truy tố khoản 2 Điều 151 của Bộ luật hình sự; bị cáo Hoàng Thị L có 02 tình tiết định khung; bị cáo Hoàng Kim S có 01 tình tiết định khung. Vì vậy khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ đánh giá những tình tiết này đối với các bị cáo.
Đối với những người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo Hoàng Thị L và bị cáo Hoàng Kim S trong vụ án này. Bản thân các bị cáo không quen biết những người đàn ông này, không có thông tin gì về đối tượng nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xem xét, xử lý. Như vậy là đúng quy định của pháp luật.
Đối với Hoàng Trung K, Hoàng Tuấn C1, Hoàng Doãn N, Nguyễn Khắc C, Lương Thị N1, Nguyễn Hồng V là người nghiện ma túy, có liên quan đến việc mua ma túy trái phép với các bị cáo, mục đích là để sử dụng nhằm thỏa mãn cơn nghiện, là hành vi vi phạm pháp luật nhưng các đối tượng này đã sử dụng hết số ma túy, không xác định được trọng lượng nên không đủ căn cứ xử lý về hình sự, ngày 14/9/2021 Công an huyện Bắc Sơn đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng này. Như vậy là đúng quy định của pháp luật.
Về tang vật của vụ án:
Số ma túy Heroine thu giữ của bị cáo Hoàng Thị L và bị cáo Hoàng Kim S đã qua giám định là vật cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy; 01 cân điện tử ; 73 tờ giấy dùng để gói ma túy dùng việc vào hành vi trái pháp luật cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
Các điện thoại thu giữ của bị cáo Hoàng Thị L, bị cáo Hoàng Kim S, của Hoàng Trung K mỗi người một điện thoại, dùng vào việc liên lạc để mua bán trái phép chất ma túy cần tuyên tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước.
02 điện thoại thu giữ của bị cáo Hoàng Thị L không liên quan đến hành vi phạm tội cần tuyên trả lại cho bị cáo.
Số tiền 180.000 đồng (một trăm tám mươi nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Hoàng Kim S và số tiền 1.225.000 đồng (một triệu hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Hoàng Thị L là do bán trái phép chất ma túy mà có cần tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Tuyên truy số tiền 220.000 đồng (hai trăm hai mươi nghìn đồng) đối với bị cáo Hoàng Kim S do được hưởng lợi bất chính từ việc bán trái phép chất ma túy, để sung công quỹ Nhà nước.
Tuyên truy thu số tiền 6.675.000 đồng (sáu triệu sáu trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) đối với bị cáo Hoàng Thị L do được hưởng lợi bất chính từ việc bán trái phép chất ma túy, để sung công qũy Nhà nước.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Hoàng Thị L và bị cáo Hoàng Kim S không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng; nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.
Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi của các bị cáo. Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận, nhất trí với luận tội của Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, các bị cáo xin với Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm được trở về đoàn tụ cùng gia đình và hòa nhập với xã hội.
Những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, đề nghị.
Trong quá trình điều tra, truy tố; Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật. Các bị cáo; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
I. Căn cứ điểm b, điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị L phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Hoàng Thị L 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/6/2021.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Hoàng Kim S phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Hoàng Kim S 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/6/2021.
II. Về tang vật của vụ án:
+ Áp dụng điểm a, điểm b khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự.
Tuyên tịch thu tiệu hủy:
01 (một) phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước phong bì có dòng chữ viết tay “Tang vật thu giữ trong gối của Hoàng Thị L”, có chữ ký cùng tên của Hoàng Mạnh Hà, Nguyễn Xuân Đông và 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn, mặt sau phong bì tại phần dán giáp lai có 05 hình dấu tròn đỏ của Công an xã Đ, chữ ký cùng dấu chức danh Trưởng Công an xã, dấu tên Thiếu tá Hoàng Lâm Sơn, chữ ký cùng tên Bùi Anh Thái, Hoàng Công B, Hoàng Thị L, Hoàng Công T, bên trong có: 01 (một) túi nilon cũ đựng tổng cộng 4,864 gam chất ma túy Heroine (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và toàn bộ các vỏ bao gói cũ.
01 (một) phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước phong bì có dòng chữ viết tay “Tang vật thu giữ do Hoàng Kim S tự giao nộp và do khám xét”, có chữ ký cùng tên của Hoàng Mạnh Hà, Nguyễn Xuân Đông và 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn, mặt sau phong bì tại phần dán giáp lai có 01 hình dấu tròn đỏ của Công an xã Đ, chữ ký cùng dấu chức danh Phó Trưởng Công an, dấu tên Đại úy Lộc Văn Thức, chữ ký cùng tên Hoàng Anh Sơn, Hoàng Kim S, Hoàng Văn V1, bên trong có: 01 (một) gói giấy đựng tổng cộng 0,068 gam chất ma túy Heroine (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và toàn bộ các vỏ bao gói cũ.
01 (một) Cân điện tử; 73 (bẩy mươi ba) tờ giấy có đặc điểm giống nhau, một mặt màu vàng, một mặt màu trắng (dạng giấy hút ẩm trong bao thuốc lá), là đồ vật bị can Hoàng Thị L sử dụng vào việc mua bán trái phép chất ma túy.
Tuyên tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước:
01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu MASSTEL, màu đen, dạng bàn phím, kiểu máy izi 100, số IMEI1: 352377067954939, số IMEI2: 352377067954947, máy lắp 01 sim có số thuê bao 0983597187 (trên sim có dòng số 8984048000077667431).
01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu ITEL, màu đen, dạng bàn phím, số IMEI1: 355149113382846, số IMEI2: 355149113382853, máy lắp 01 sim có số thuê bao 0365404241 (trên sim có dòng số 8984048000054610759).
01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, dạng bàn phím, Model: 1208, số IMEI: 359341027853907, máy lắp 01 sim có số thuê bao 0397788432 (trên sim có dòng số 8984048000314856230.
Tuyên tịch thu sung công quỹ nhà nước:
01 (một) phong bì thư đóng gói, bên trong có số tiền 180.000 đồng (một trăm tám mươi nghìn đồng), phong bì đã được niêm phong, mặt trước phong bì có dòng chữ viết tay “số tiền 180.000 đồng thu giữ trên người Hoàng Kim S”, chữ ký cùng tên của Hoàng Văn Dậu, Nông Quang Phú và 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn, mặt sau phong bì có 01 hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn, chữ ký cùng dấu Phó trưởng Công an xã và dấu tên Đại úy Lộc Văn Thức, chữ ký cùng tên của Hoàng Kim S, Đinh Duy Toàn, Hoàng Văn V1, Hoàng Văn Duy.
01 (một) phong bì thư bên trong có số tiền 1.225.000đ (một triệu hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng), phong bì đã được niêm phong, mặt trước phong bì có dòng chữ viết tay “số tiền thu giữ trên người Hoàng Thị L”, chữ ký cùng tên của Hoàng Văn Dậu, Nông Quang Phú và 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn, mặt sau phong bì có 05 hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn, chữ ký cùng dấu Trưởng Công an xã và dấu tên Thiếu tá Hoàng Lâm Sơn, chữ ký cùng tên của Hoàng Công T, Hoàng Thị L, Hoàng Công B, Bùi Anh Thái.
Tuyên truy thu:
Tuyên truy số tiền 220.000 đồng (hai trăm hai mươi nghìn đồng) đối với bị cáo Hoàng Kim S, để sung công quỹ Nhà nước.
Tuyên truy thu số tiền 6.675.000 đồng (sáu triệu sáu trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) đối với bị cáo Hoàng Thị L, để sung công quý Nhà nước.
Tuyên trả cho bị cáo Hoàng Thị L:
01 (một) Điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, loại máy Reno2F, số IMEI 1: 869778040409733, số IMEI 2: 869778040409725, máy lắp 01 sim có số thuê bao 0946471324 (trên sim có dòng số 89840200010901061515). Kiểm tra nội dung trong máy không phát hiện thông tin gì. 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, loại máy Reno5, số IMEI 1: 865545058881556, số IMEI 2: 865545058881549, máy lắp 01 sim có số thuê bao 0819295331 (trên sim có dòng số 89840200011139106817).
(Vật chứng và số tiền trên hiện đang được lưu giữ tại kho của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Bắc Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Sơn).
III. Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Buộc bị cáo Hoàng Thị L và bị cáo Hoàng Kim S mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo; tòa báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Báo cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - Công an huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - Chi cục THADS huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - Bị cáo; - Người có QL&NV liên quan; - Lưu: Toà; hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Mạnh Đức |