vanban.org

Bản án 37/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị N đối với anh Nguyễn Chí Y. Cho chị N ly hôn với anh Y.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Chí K, sinh ngày 13/01/2015 cho anh Y tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Hiện cháu Khang đang sinh sống chung với anh Y. Chị N không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Về cấp dưỡng: Chị N không phải cấp dưỡng n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con chung"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị N đối với anh Nguyễn Chí Y. Cho chị N ly hôn với anh Y.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2021/HNGĐ-ST
Ngày 21 – 6 - 2021
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Tính

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đào Văn Vĩnh

2. Ông Phạm Văn Sáu

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhựt – Thư ký Tòa án nhân dân Huyện V, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Mỹ Tiên – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 28/2021/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2021 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28A/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị N, sinh năm 1985. Địa chỉ: Ấp ML, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Anh Nguyễn Chí Y, sinh năm 1993. Địa chỉ: Ấp B, xã C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện đề ngày 08 tháng 02 năm 2021 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Lê Thị N trình bày:

Về hôn nhân: Vào năm 2014, chị Lê Thị N vớ i anh Nguyễn Chí Y tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 29/5/2014.

Trong thời gian chung sống, giữa chị N với anh Y thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên đã sống ly thân khoảng 01 năm nay, trong thời gian sống ly thân giữa chị N với anh Y không thể hàn gắn được tình cảm vợ chồng. Nay chị N yêu cầu được ly hôn với anh Y.

Về con chung: Chị N với anh Y chung sống với nhau có 01 người con chung tên: Nguyễn Chí K, sinh ngày 13/01/2015, hiện nay cháu K đang sống chung với anh Y. Khi ly hôn với anh Y, chị N đồng ý giao cháu K cho anh Y tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành; chị N không cấp dưỡng nuôi cháu Khang.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị N xác định trong thời gian chung sống với anh Y không có nợ chung, tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Chí Y: Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Bạc Liêu đã nhiều lần trực tiếp đến nơi cư trú của anh Y để tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập, Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Bạc Liêu cho anh Y nhưng anh Y không đến Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Bạc Liêu để làm việc nên không ghi nhận ý kiến của anh Y đối với yêu cầu khởi kiện của chị N.

Theo ông Trần Trung K là Trưởng ấp B, xã C, Huyện V, tỉnh Bạc Liêu xác nhận: Chị N và anh Y có kết hôn và có đăng ký nhân khẩu thường trú tại địa phương, nhưng từ khoảng 01 năm nay chị N và anh Y không còn chung sống với nhau (đã sống ly thân); anh Y đi làm thuê ở tỉnh Bình Dương nhưng khoảng 01 – 02 tháng có về địa phương. Hiện anh Y và chị N không có nợ bất kỳ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện V, tỉnh Bạc Liêu phát biểu ý kiến tại phiên tòa:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình thực hiện chức năng kiểm sát thì Viện kiểm sát không phát hiện vi phạm. Chị N đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Y chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị N đối với anh Nguyễn Chí Y, cho chị N ly hôn với anh Y. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Chí K, sinh ngày 13/01/2015 cho anh Y tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục; chị N không phải cấp dưỡng nuôi con do anh Y không có yêu cầu Tòa án giải quyết; về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị N phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền: Chị Lê Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Chí Y, địa chỉ cư trú tại ấp B, xã C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì vụ kiện trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Bạc Liêu.

Về tố tụng: Ngày 24/5/2021, chị N có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Y đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào các điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị N và anh Y.

Về hôn nhân: Chị N và anh Y tự nguyện xây dựng hôn nhân vào năm 2014 và có đ ă ng ký kế t hôn đ ư ợ c Ủ y ban nhân dân xã C, huyệ n V, tỉ nh Bạ c Liêu vào ngày 29/5/2014, đ ư ợ c cấ p giấ y chứ ng nhậ n đ ă ng ký kế t hôn số 75/2014, Quyể n số 01/2013 nên hôn nhân của chị N và anh Y là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.

Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị N và anh Y đã phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng ý kiến dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên chị N và anh Y đã sống ly thân khoảng 01 năm nay nên chị N yêu cầu ly hôn anh Y. Căn cứ vào các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị N đối với anh Y, cho chị N ly hôn với anh Y.

Về con chung: Chị N đồng ý giao con chung là cháu Nguyễn Chí K, sinh ngày 13/01/2015 cho anh Y tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục do cháu K đang sống chung anh Y. Xét thấy, từ khi chị N và anh Y sống ly thân đến nay con chung do anh Y trông nom, chăm sóc, giáo dục nên cần giao cháu Khang cho anh Y tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục cho đến tuổi trưởng thành. Chị N không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng: Chị N không đồng ý cấp dưỡng nuôi con. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Y để ghi nhận ý kiến nhưng anh Y đều vắng mặt và cũng không có gửi văn bản nêu ý kiến hay yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn với chị N nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Trường hợp anh Y và chị N có tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con thì anh Y có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án khác.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị N xác định vợ chồng chung sống với nhau không có tài sản chung, nợ chung và không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Trường hợp anh Y có phát sinh tranh chấp với chị N về phân chia tài sản chung, nợ chung sau khi ly hôn thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án khác.

Về án phí: Chị N phải nộp 300.000 đồng tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Từ những phân tích nêu trên, có căn cứ chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, các điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 9, 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị N đối với anh Nguyễn Chí Y. Cho chị N ly hôn với anh Y.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Chí K, sinh ngày 13/01/2015 cho anh Y tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Hiện cháu Khang đang sinh sống chung với anh Y. Chị N không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng: Chị N không phải cấp dưỡng nuôi con do anh Y không có yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị N phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai số 0008553 ngày 25/02/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Bạc Liêu; chị N đã nộp đủ tiền án phí.

6. Về quyền kháng cáo: Chị N và anh Y vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ