vanban.org

Bản án 37/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M đối với bị đơn ông Nguyễn Kim T về việc “Ly hôn”. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị M đƣợc ly hôn với ông Nguyễn Kim T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị M - Nguyễn Kim T - Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ GIÁO

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 37/2021/HNGĐ-ST
Ngày 17/11/2021
V/v ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO T NH ÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Hữu Duyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Trƣờng Hải;

Bà Võ Thị Thu Thảo.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thu Thảo - Thƣ ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Phƣơng Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 499/2020/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2020 về "Ly hôn" theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 44/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2021, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1956;

Địa chỉ: Số nhà 265, tổ 1, ấp BH, xã AB, huyện P, tỉnh Bình Dƣơng. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Kim T, sinh năm 1957;

Địa chỉ: Số nhà 265, tổ 1, ấp BH, xã AB, huyện P, tỉnh Bình Dƣơng. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Nguyễn Thị M trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Kim T tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn vào ngày 16 tháng 02 năm 2002 tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện H, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn, thời gian đầu chung sống với nhau rất hạnh phúc nhƣng sau đó không hạnh phúc nữa. Nguyên nhân mâu thuẫn: Hai vợ chồng thƣờng bất đồng quan điểm và hay cãi nhau, không hợp nhau. Tình cảm vợ chồng bị rạn nứt, không còn hàn gắn đƣợc nữa. Hiện tại, bà và ông T không còn chung sống với nhau, cuộc sống hai vợ chồng không còn hạnh phúc, tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài. Vì vậy, bà quyết định ly hôn với ông Nguyễn Kim T.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà và ông T có 04 con chung tên Nguyễn Thị L, sinh ngày 13/7/1981; Nguyễn Thị A, sinh ngày 20/5/1985; Nguyễn Thị M1, sinh ngày 05/5/1988 và Nguyễn Thị V, sinh ngày 10/8/1993. Các con chung đã trƣởng thành, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị M có đơn xin xét xử vắng mặt, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.

Tại biên bản lấy lời khai của đương sự, bị đơn ông Nguyễn Kim T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà M tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1976 đến năm 2020, có đăng ký kết hôn vào ngày 16 tháng 02 năm 2002 tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện H, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn, thời gian đầu chung sống với nhau rất hạnh phúc nhƣng sau đó không hạnh phúc nữa. Với yêu cầu xin ly hôn của bà M, ông không đồng ý ly hôn vì vợ chồng đã lớn tuổi, mong muốn vợ chồng đƣợc đoàn tụ để chăm sóc cho nhau khi về già. Trƣờng hợp, bà M kiên quyết ly hôn thì ông đồng ý giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống, ông và bà M có 04 con chung tên Nguyễn Thị L, sinh ngày 13/7/1981; Nguyễn Thị A, sinh ngày 20/5/1985; Nguyễn Thị M1, sinh ngày 05/5/1988 và Nguyễn Thị V, sinh ngày 10/8/1993. Các con chung đã trƣởng thành, ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết, không có yêu cầu phản tố với bà Nguyễn Thị M.

Đồng thời, ông T có đơn xin xét xử vắng mặt, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dƣơng tham gia phiên tòa phát biểu:

- Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình thụ lý, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thƣ ký và những ngƣời tham gia tố tụng đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục và thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Kim T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn nên hôn nhân giữa bà M và ông T là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên bà M yêu cầu đƣợc ly hôn. Nguyên đơn bà M, bị đơn ông T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định pháp luật. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Nguyễn Thị M đƣợc ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Kim T.

Về con chung: Ông T và bà M có 04 con chung tên Nguyễn Thị L, sinh ngày 13/7/1981; Nguyễn Thị A, sinh ngày 20/5/1985; Nguyễn Thị M1, sinh ngày 05/5/1988 và Nguyễn Thị V, sinh ngày 10/8/1993. Các con chung đã trƣởng thành, đƣơng sự không yêu cầu giải quyết nên Viện kiểm sát không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Đƣơng sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Viện kiểm sát không đặt ra xem xét.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận và không kiến nghị khắc phục hay bổ sung gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã đƣợc xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về thẩm quyền giải quyết: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M về việc ly hôn đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; hiện bị đơn ông Nguyễn Kim T đang thƣờng trú tại xã AB, huyện P, tỉnh Bình Dƣơng và nguyên đơn bà Nguyễn Thị M có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dƣơng nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện P theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhƣ: Thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên hòa giải, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đƣa vụ án ra xét xử cho bị đơn ông Nguyễn Kim T, nhƣng ông T vắng mặt không lý do trong các buổi hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ.

Nguyên đơn bà M, bị đơn ông T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy, Toà án căn cứ vào các Điều 5, 6, 91 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để giải quyết vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị M và bị đơn ông Nguyễn Kim T chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã D, huyện H, tỉnh Thái Bình nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng không tin tƣởng lẫn nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, hiện hai vợ chồng đã sống ly thân, nên nguyên đơn xin ly hôn với bị đơn.

Theo biên bản xác minh tại xã AB, huyện P ngày 19 tháng 02 năm 2021 thì ông T và bà M chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện H, tỉnh Thái Bình. Nguyên nhân phát sinh của việc tranh chấp ly hôn giữa ông T và bà M thì chính quyền địa phƣơng không nắm rõ, do đƣơng sự giải quyết nội bộ, cũng không trình báo sự việc hay nhờ chính quyền địa phƣơng can thiệp giải quyết và không có đơn yêu cầu. Hiện tại, bà M và ông T đã sống ly thân hơn 01 năm.

Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà M và ông T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Nguyễn Thị M đƣợc ly hôn với ông Nguyễn Kim T theo quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Ông T và bà M có 04 con chung tên Nguyễn Thị L, sinh ngày 13/7/1981; Nguyễn Thị A, sinh ngày 20/5/1985; Nguyễn Thị M1, sinh ngày 05/5/1988 và Nguyễn Thị V, sinh ngày 10/8/1993. Các con chung đã trƣởng thành, đƣơng sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Đƣơng sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Đƣơng sự phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điều 5, Điều 6, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 91, khoản 4 Điều 147 và các Điều 227, 228, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuy n :

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M đối với bị đơn ông Nguyễn Kim T về việc “Ly hôn”.

2. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị M đƣợc ly hôn với ông Nguyễn Kim T.

3. Về con chung: Đƣơng sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Đƣơng sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

5. Về án phí:

Bà Nguyễn Thị M phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, đƣợc khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0043766 ngày 09 tháng 12 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dƣơng.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc kể từ ngày bản án đƣợc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ