vanban.org

Bản án 37/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Gi đối với bà Phạm Thị M.

Buộc bà Phạm Thị M phải trả cho bà Bùi Thị Gi số tiền vốn vay còn nợ 60.000.000đ (Sáu mươi triệu đồng). Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của bà Bùi Thị Gi, nếu chậm thi hành, bà Phạm Thị M còn phải trả thêm tiền lãi theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015. Về á… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bà Bùi Thị Gi "Tranh chấp hợp đồg vay" bà Phạm Thị M"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Gi đối với bà Phạm Thị M.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘC HÓA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2021/DS-ST
Ngày: 01/7/2021
V/v: “Tranh chấp hợp đồng dân
sự về vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC HÓA

TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy Hồng.

Các hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Tấn Hải;

2/ Ông Lê Văn Những;

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An.

Ngày 01 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 62/2021/TLST-DS, ngày 21 tháng 6 năm 2021, về việc: “Tranh chấp hợp đồng dân sự về vay tài sản”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2021/QĐXXST-DS, ngày 21 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Gi, sinh năm 1962;

Địa chỉ cư trú: Ấp S, xã B, huyện M, tỉnh L;

2/ Bị đơn: Bà Phạm Thị M, sinh năm: 1975;

Địa chỉ cư trú: Ấp S, xã B, huyện M, tỉnh L

(Các đương sự có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1/ Theo đơn khởi kiện ghi ngày 28/5/2021 và những lời trình bày tiếp theo của nguyên đơn, bà Bùi Thị Gi, như sau:

Nguyên vào ngày 21/3/2020 bà có cho bà Phạm Thị M vay số tiền 58.000.000đ, thời hạn trả 01 tháng, bà M có ký nhận vào biên nhận vay tiền. Nhưng đến thời hạn mà bà M không thực hiện như thỏa thuận. Bà đã nhiều lần yêu cầu nhưng bà M vẫn chưa thanh toán tiền nợ.

Trước đây tại đơn khởi kiện bà có yêu cầu bà M trả số tiền vốn vay 58.000.000đ và tiền lãi 8.120.000đ, tổng cộng 66.120.000đ. Nay bà thay đổi yêu cầu khởi kiện yêu cầu bà M trả số tiền 58.000.000đ và tiền lãi 2000.000đ, tổng cộng 60.000.000đ, trả một lần.

2. Bị đơn, bà Phạm Thị M trình bày: Bà thừa nhận đúng là bà có vay tiền của bà Gi số tiền 58.000.000đ. Nay bà Gi khởi kiện yêu cầu trả số tiền 58.000.000đ và 2000.000đ tiền lãi, tổng cộng 60.000.000đ thì bà cũng đồng ý, tuy nhiên do hoàn cảnh khó khăn bà xin trả làm 04 lần vào các vụ lúa.

Tại phiên tòa:

Các đương sự trình bày đã cung cấp đủ các chứng cứ, không cung cấp chứng cứ gì thêm đồng thời vẫn giữ ý kiến như nội dung tóm tắt của vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền của Tòa án: Ngày 28/5/2021 bà Bùi Thị Gi khởi kiện yêu cầu bà Phạm Thị M trả lại số tiền vay 58.000.000đ làm phát sinh quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng dân sự về vay tài sản. Đây là vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án. Do bà M cư trú tại huyện Mộc Hóa, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về yêu cầu của đương sự: Theo biên nhận ngày 12/10/2020AL thể hiện việc bà Phạm Thị M có vay của bà Gi số tiền 58.000.000đ cũng như tại phiên tòa bà M cũng đã thừa nhận còn thiếu bà Gi số tiền 58.000.000đ, nên Hội đồng xét xử xác định đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Một bên thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, …. mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Do đó có căn cứ xác định bà M có vay bà Gi số tiền 58.000.000đ, nhưng chưa trả được khoản tiền nào. Nay bà Gi yêu cầu bà M trả số tiền 58.000.000đ là có cơ sở nên Hội đồng xét xử xét cần chấp nhận. Bà Gi yêu cầu tính lãi với số tiền 2.000.000đ và bà M cũng đồng ý, đây là sự tự nguyện của đương sự nên Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử cũng chấp nhận.

Về thời hạn trả: Bà Gi yêu cầu bà M trả một lần, tuy nhiên bà M xin được trả 04 lần. Xét yêu cầu này của bà M không được bà Gi chấp nhận. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc bà M trả cho bà Gi số tiền 60.000.000đ ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Phạm Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, các Điều 35, 39, 147, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Gi đối với bà Phạm Thị M.

- Buộc bà Phạm Thị M phải trả cho bà Bùi Thị Gi số tiền vốn vay còn nợ 60.000.000đ (Sáu mươi triệu đồng). Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của bà Bùi Thị Gi, nếu chậm thi hành, bà Phạm Thị M còn phải trả thêm tiền lãi theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị M phải chịu 3000.000đ (Ba triệu đồng). Bà Bùi Thị Gi không phải chịu án phí. Hoàn lại cho bà Gi tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.653.000đ (Một triệu sáu trăm năm mươi ba nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000282 ngày 21/6/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ