- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bà Nguyễn Thị Tuyết M tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bà Trương Thị Kim D"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu trả tiền vay của bà Nguyễn Thị Tuyết M, buộc bà Trương Thị Kim D và ông Nguyễn Thành N có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Tuyết M số tiền vay là 40.
- Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2021/DS-ST. Ngày: 11-11-2021. V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Văn Long.
Ông Đinh Ngọc Dình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Hồng- Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An.
Ngày 11 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 47/2021/TLST-DS ngày 20 tháng 4 năm 2021, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2021/QĐXXST-DS, ngày 05 tháng 10 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 52/2021/QĐST-DS ngày 20 tháng 10 năm 2021, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1962, địa chỉ: Số nhà 85, đường H, Phường 3, thành phố Tân An, tỉnh Long An. (vắng mặt)
Người đại diện theo uỷ quyền của bà M: Bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1970, địa chỉ: Số nhà 1/6A, khu phố H, thị trấn Tầm Vu, huyện Châu Thành, tỉnh Long An. (có mặt)
Bị đơn: Bà Trương Thị Kim D, sinh năm 1966, địa chỉ: Số nhà 142/7, Ấp 7, xã P, huyện Châu Thành, tỉnh Long An. (vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thành N, sinh năm 1962, địa chỉ: Số nhà 142/7, Ấp 7, xã P, huyện Châu Thành, tỉnh Long An. (vắng mặt)
NỘI D VỤ ÁN:
Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Tuyết M trình bày trong đơn khởi kiện, trong bản tự khai và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Kim H trình bày trong quá trình giải quyết vụ án như sau:
Ngày 18 tháng 01 năm 2021, bà D có vay của bà M số tiền là 40.000.000 đồng, lãi suất thoả thuận miệng là 3%/tháng, mục đích bà D vay tiền của bà M để lo kinh tế gia đình, thời hạn vay tiền là 01 tháng, bà D có viết “Giấy mượn tiền” có chữ ký tên của bà D. Đến thời hạn trả nợ, bà D không trả tiền vốn vay và tiền lãi cho bà M. Bà M đã nhiều lần yêu cầu bà D trả tiền cho bà M, nhưng bà D vẫn không trả.
Nay bà M yêu cầu bà Trương Thị Kim D cùng chồng là ông Nguyễn Thành N trả cho bà M số tiền vay là 40.000.000 đồng, trả 01 lần, không yêu cầu trả tiền lãi.
Bị đơn là bà Trương Thị Kim D và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Thành N không tham gia tố tụng, không có ý kiến gì về việc khởi kiện của nguyên đơn.
Các đương sự không còn trình bày hay yêu cầu gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Nguyên đơn kiện bị đơn, tranh chấp hợp đồng vay tài sản, bị đơn cư trú tại huyện Châu Thành, tỉnh Long An. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An thụ lý giải quyết.
Bị đơn là bà Trương Thị Kim D và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Thành N đã được tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt đối với bà Trương Thị Kim D và ông Nguyễn Thành N.
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trả nợ vay với số tiền là 40.000.000 đồng, không yêu cầu trả tiền lãi, nguyên đơn yêu cầu trả một lần, trong thời gian ngắn. Nguyên đơn cung cấp được chứng cứ là 01 “Giấy mượn tiền” có chữ ký tên của bị đơn. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tham gia tố tụng, không có ý kiến gì về việc khởi kiện của nguyên đơn. Yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các Điều 288, 470 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên chấp nhận, buộc bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có nghĩa vụ liên đới trả cho nguyên đơn số tiền vay là 40.000.000 đồng. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn phải chịu tiền lãi nếu như chậm thực hiện nghĩa vụ trên số tiền theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Về án phí: Theo quy định tại Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng các Điều 288, 468 và 470 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- Áp dụng Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu trả tiền vay của bà Nguyễn Thị Tuyết M, buộc bà Trương Thị Kim D và ông Nguyễn Thành N có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Tuyết M số tiền vay là 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).
Khi án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành hoàn tất số tiền trên, thì người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Về án phí:
Bà Nguyễn Thị Tuyết M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, trả lại cho bà Nguyễn Thị Tuyết M số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.000.000 đồng (một triệu đồng), theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000957 ngày 15 tháng 4 năm 2021 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Long An.
Bà Trương Thị Kim D và ông Nguyễn Thành N có nghĩa vụ liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).
3. Bà Nguyễn Thị Tuyết M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Trương Thị Kim D và ông Nguyễn Thành N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm.
4. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. *Nơi nhận:
| -Tòa án tỉnh; -Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành; -Cơ quan thi hành án huyện Châu Thành; -Các đương sự; -Lưu (hồ sơ, án văn) 0 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Văn Tùng |