vanban.org

Bản án 37/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Quận 10, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 23/02/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xét xử vắng mặt nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần S và bị đơn là ông Trần Công P.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần S. Buộc ông Trần Công P phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S tổng số tiền còn nợ là 9.330.215 đồng (chín triệu ba trăm ba mươi ngàn hai trăm mười lăm đồng), trong đó: nợ gốc là 2.667.851 đồng (hai triệu sáu trăm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Xét xử vắng mặt nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần S và bị đơn là ông Trần Công P.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2021/DS-ST
Ngày: 23-02-2021
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thu Hằng

2. Ông Trần Phú Nhuận

- Thư ký phiên tòa: Bà Trà Thị Thúy Diễm

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên toà:

Ông Hoàng Thế Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 02 năm 2021 tại Tòa án nhân dân Quận 10 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 340/2020/TLST-DS ngày 20 tháng 11 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2021/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 01 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2021/QĐST-DS ngày 02 tháng 02 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S

Trụ sở: Đường M, phường N, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc M (có đơn xin vắng mặt) (Văn bản ủy quyền số 1011/2020/UQ-TTT ngày 20/10/2020)

2. Bị đơn: Ông Trần Công P – sinh năm 1973 (vắng mặt)

Thường trú: đường X, phường Y, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh..

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 30/10/2020 và quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Ngọc M là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 18/12/2010, ông Trần Công P có ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần S (gọi tắt là Ngân hàng) giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng, bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Căn cứ thu nhập của ông Trần Công P, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 18.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Cụ thể như sau: Loại thẻ

Số thẻ

Số TK thẻ

Hạn mức Ngày ký hợp Lãi suất áp

đồng

dụng

Visa 472074 - 8799 3616818575 18.000.000 18/12/2010

2.15%

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông P đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 27.100.000 đồng.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt đến nay ông P đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 30.820.780 đồng, trong đó: thanh toán vốn gốc là 24.432.149 đồng, lãi và phí là 6.388.631đồng.

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông P vẫn không thiện chí trả nợ. Do ông P vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 16/10/2014 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn là 2.667.851 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất trong hạn. Tạm tính đến ngày 23/02/2021 ông P còn nợ 9.330.215 đồng, cụ thể sau: Loại thẻ

Số thẻ

Số TK thẻ

Nợ gốc Lãi quá hạn Lãi suất áp

dụng

Visa

472074 - 8799 3616818575 2.667.851

6.662.364

3.225%

đồng

đồng

(2.15%x150%)

Do đó, Ngân hàng đề nghị Tòa án buộc ông Trần Công P phải trả ngay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S tổng số tiền tạm tính đến ngày 23/02/2021 là 9.330.215 đồng, trong đó: nợ gốc là 2.667.851 đồng, nợ lãi quá hạn là 6.662.364 đồng và có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 24/02/2021 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Bị đơn: Ông Trần Công P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng ông P vẫn không đến Tòa làm việc nên không có ý kiến trình bày.

Tại phiên tòa hôm nay,

Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

Bị đơn vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các qui định của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đúng thẩm quyền, thời hiệu, quan hệ pháp luật tranh chấp. Những người tham gia tố tụng được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo qui định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào đơn khởi kiện và bản tự khai của nguyên đơn là phù hợp với chứng cứ có trong hồ sơ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định đây là vụ án dân sự về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét thấy tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng do ông Trần Công P ký ngày 18/12/2010 thì các bên thỏa thuận địa chỉ của bị đơn là đường X, phường Y, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh. nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10 theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao.

Về thủ tục tố tụng của Tòa án:

Xét người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Ngọc M có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn là ông Trần Công P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Về yêu cầu đương sự:

Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: Ngày 18/12/2010, ông Trần Công P có ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần S hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng Visa số thẻ 472074 – 8799, số tài khoản thẻ 3616818575 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), hạn mức sử dụng là 18.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông P đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 27.100.000 đồng. Ông P đã thanh toán tổng số tiền 30.820.780 đồng, số tiền này được trừ vào tiền gốc giao dịch là 24.432.149 đồng và các loại tiền phí, tiền lãi là 6.388.631đồng. Nay, Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc ông Trần Công P phải trả ngay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S tổng số tiền là 9.330.215 đồng, trong đó: nợ gốc là 2.667.851 đồng, nợ lãi quá hạn tạm tính đến ngày 23/02/2021 là 6.662.364 đồng.

Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, để làm rõ số tiền hiện còn nợ và số tiền mà bị đơn đã thanh toán, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông P đến Tòa để trình bày ý kiến của mình nhưng ông P vẫn vắng mặt xem như đã tự tước bỏ quyền cung cấp chứng cứ, quyền tự bảo vệ lợi ích của mình trước Tòa nên phải chịu hậu quả của việc không đưa ra được chứng cứ. Do đó, việc Ngân hàng tự nguyện khai báo về số tiền mà ông P đã thanh toán cho Ngân hàng cũng như số tiền hiện còn nợ là có thiện chí, phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Về tiền lãi suất:

Xét thấy, tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng do ông P ký ngày 18/12/2010, bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại cổ phần S, thông báo v/v thay đổi lãi suất và phí phát hành nhanh của thẻ tín dụng quốc tế Sacombank thì giữa ông P và Ngân hàng thỏa thuận lãi suất là 2.15%/tháng, lãi suất quá hạn là 150% của lãi suất được công bố áp dụng tại thời điểm hiện tại. Căn cứ theo quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì việc thỏa thuận này phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận.

Về thời hạn thanh toán:

Do ông P vi phạm thời hạn trả nợ theo như thỏa thuận nên làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng. Do đó, việc Ngân hàng yêu cầu ông P phải thanh toán số tiền còn nợ ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn là ông Trần Công P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán là 9.330.215 đồng. Hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 471 và Điều 474 Bộ luật Dân sự năm 2005;

Căn cứ Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008;

Căn cứ Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao.

Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Xét xử vắng mặt nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần S và bị đơn là ông Trần Công P.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần S.

Buộc ông Trần Công P phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S tổng số tiền còn nợ là 9.330.215 đồng (chín triệu ba trăm ba mươi ngàn hai trăm mười lăm đồng), trong đó: nợ gốc là 2.667.851 đồng (hai triệu sáu trăm sáu mươi bảy ngàn tám trăm năm mươi mốt đồng), nợ lãi quá hạn tạm tính đến ngày 23/02/2021 là 6.662.364 đồng (sáu triệu sáu trăm sáu mươi hai ngàn ba trăm sáu mươi bốn đồng) theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng do ông P ký ngày 18/12/2010 sử dụng thẻ Visa số thẻ 472074 – 8799, số tài khoản thẻ 3616818575.

Thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Việc giao nhận tiền được thực hiện tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Trần Công P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 466.511 đồng (bốn trăm sáu mươi sáu ngàn năm trăm mười một đồng) và nộp tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2019/0049717 ngày 10/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

5. Quyền kháng cáo:

Ngân hàng Thương mại cổ phần S và ông Trần Công P vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ