- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần AT - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Trần AT 07 (bẩy) năm 03 (ba) tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2019.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2020/HSST Ngày 30 - 3 - 2020. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐA – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ Phiên toà: Ông Trần Trung Trực
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hoàng Thị Hòa
2. Ông Hoàng Hướng Dương
- Thƣ ký phiên toà: Ông Thịnh Quang Trung – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện ĐA.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện ĐA, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Việt Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 30/3/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện ĐA, Thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 38/2020/TLST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2020/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần AT, sinh năm 1995 tại Hà Nội; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: thôn TL, xã TL1, huyện ĐA, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Trần VT và bà Nguyễn TV; Về nhân thân và theo trích lục tiền án, tiền sự số 2406185/PV06 ngày 20/01/2020 thì bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Bị cáo bị bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2019 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện ĐA, thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.
* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan :
Anh Đỗ HA, sinh năm 1991
Trú tại: Thôn GT, xã LH, huyện ĐA, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 00 phút ngày 16/12/2019, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an huyện ĐA làm nhiệm vụ tại thôn TL, xã TL1, huyện ĐA, thành phố Hà Nội nghi vấn và tiến hành kiểm tra hành chính đối với Trần AT, Đỗ HA và Nguyễn TK. Qua kiểm tra tổ công tác phát hiện và thu giữ của Trần AT 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng; 03 vỏ túi nilon màu trắng bên trong có dính tinh thể màu trắng, AT khai là ma tuý loại “Đá” đang chuẩn bị bán cho Đỗ HA. Tổ công tác tiếp tục kiểm tra và thu giữ của Đỗ HA 300.000đ ; Kiểm tra Nguyễn TK liên quan đến ma tuý. Tổ công tác đã lập biên bản tạm giữ, niêm phong vật chứng, đưa Trần AT, Đỗ HA và Nguyễn TK về trụ sở để tiếp tục điều tra làm rõ.
Ngoài ra Cơ quan điều tra còn thu giữ của Trần AT 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng - trắng, số thuê bao: 0358910815, số Imei: 355426070027519; của Đỗ HA; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen trắng, số thuê bao: 0347331673, sốImei 1: 53872083857677, số Imei2: 353872083857685.
Tại bản kết luận giám định số 8104 ngày 23/12/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận : Tinh thể màu trắng trong 01 túi nilon (vật chứng thu giữ của Trần AT) là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng: 0,135 gam; 03 vỏ túi nilon có dính ma túy loại Methamphetamine.
Tại Cơ quan điều tra Trần AT khai nhận:
Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 16/12/2019, AT đang ở nhà tại TL, TL1, ĐA, Hà Nội thì nhận được tin nhắn từ số thuê bao 0347331673 của Đỗ HA đến số thuê bao 0358910815 của AT với nội dung đặt vấn đề mua 300.000đ tiền ma túy “đá”, AT đồng ý và bảo An chờ. AT một mình đi đến khu vực Từ Sơn, Bắc Ninh gặp và mua của một người đàn ông 200.000đ tiền ma túy “đá”. Sau khi mua được ma túy AT mang về nhà một mình sử dụng hết một phần số ma túy vừa mua được, số ma túy còn lại AT gói vào 01 mảnh giấy ăn và cất vào túi áo khoác của AT. Đến khoảng 19 giờ 15 phút cùng ngày, An tiếp tục nhắn tin cho AT với nội dung An đang trên đường đi đến nhà AT, AT đồng ý. Khoảng 10 phút sau An gọi điện lại cho AT báo đang ở khu vực cầu Nhội thuộc TL, TL1, ĐA, Hà Nội. AT bảo An quay lại khu vực cánh đồng giữa thôn Mạnh Tân và TL, TL1, ĐA, Hà Nội để giao ma túy và nhận tiền, An đồng ý. Sau đó AT đi đến khu vực hẹn với An, đến nơi AT thấy An đang đứng đợi ở ven đường cùng với Nguyễn TK. Khi AT đang chuẩn bị đưa ma túy và nhận tiền của An thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện.
Ngoài ra, khoảng 16 giờ 00 phút ngày 16/12/2019 An dùng điện thoại, liên lạc đặt vấn đề mua của AT 300.000đ tiền ma túy “đá”, AT đồng ý và hẹn HA đến khu vực TL, Thuy Lâm, ĐA, Hà Nội để giao ma túy và nhận tiền. Sau đó AT đã gặp An đi cùng Nguyễn TK đến khu vực đầu ngõ cạnh cây xăng thôn TL, TL1, ĐA, Hà Nội. Tại đây, An đưa cho AT 300.000đ, AT cầm tiền và chỉ cho An vị trí AT để 01 túi ma túy “đá” tại cột điện gần vị trí AT đứng. Sau khi bán ma túy cho An và Kiên đi đâu AT không biết. Số tiền bán ma túy cho HA, AT đã tiêu sài hết cho bản thân.
Anh Đỗ HA và Nguyễn TK khai nhận phù hợp với lời khai của Trần AT. An khai mục đích mua ma tuý để sử dụng. Số ma tuý mua vào chiều ngày 16/12/2019 HA và TK đã cùng nhau sử dụng hết.
Đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho Trần AT và người đàn đi xe ôm chở AT đi mua ma tuý, AT khai không biết tên tuổi, địa chỉ và số điện thoại của những người này nên cơ quan điều tra không có điều kiện xác minh làm rõ để xử lý.
Đối với Đỗ HA và Nguyễn TK quá trình điều tra xác định mục đích HA mua ma tuý để cùng Kiên sử dụng. Hành vi của HA, TK là sử dụng trái phép chất ma túy nên ngày 18/2/2020 cơ quan công an đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.
Tại bản Cáo trạng số 36/CT-VKSĐA ngày 09//3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐA đã Quyêt định truy tố bị cáo Trần AT về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại Phiên tòa:
Bị cáo Trần AT khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu. Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện ĐA giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 251; điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật Hình sự năm 2015. Xử phạt: bị cáo Trần AT bị cáo Từ 7 năm đến 7 năm 6 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,135 gam ma túy Methamphetamine (trích mẫu giám định 0,026 gam) và 03 vỏ túi nilon có dính ma túy Methamphetamine. Tịch thu sung công quỹ nhà nước 02 điện thoại kèm sim và 300.000 đồng. Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 300.000 đồng tiền thu lợi bất chính từ lần phạm tội trước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về hành vi và tội danh của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo Trần AT tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 16/12/2019 tại thôn TL, xã TL1, huyện ĐA, Thành phố Hà Nội, Trần AT có hành vi bán trái phép 0,135 gam ma túy Methamphetamine cho Đỗ HA thì bị cơ quan công an phát hiện bắt giữ. Ngoài ra, AT còn khai vào khoảng 18 giờ ngày 16/12/2019 AT còn bán 300.000 đồng ma túy Methamphetamine cho An tại khu vực đầu ngõ cạnh cây xăng thôn xã TL1, huyện ĐA.
Như vậy hành vi của bị cáo Trần AT đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, được quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015. Điều luật quy định:
2.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
b, phạm tội từ 02 lần trở lên”.
Hành vi Mua bán trái phép 0,135 gam ma túy Methamphetamine là nguy hiểm cho xã hội vì chẳng những đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý và chất gây nghiện khác, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, mà còn làm gia tăng các tệ nạn về ma tuý và các loại tội phạm khác trên địa bàn thành phố Hà Nội nói chung, huyện ĐA nói riêng. Ma túy với một tác hại khôn lường do sức tàn phá của nó, chính vì vậy mà Nhà nước và cả cộng đồng xã hội ra sức tìm cách bài trừ. Bị cáo nhận thức được điều này, song do vì hám lợi vẫn cố tình phạm tội.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, trong khi có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do vậy cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Bị cáo có ông nội là Trần Văn Giao được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
Về tiền án, tiền sự của bị cáo: bị cáo không có tiền án tiền sự
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần phải áp dụng hình phạt tù nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung nhằm hạn chế các loại tội phạm khác trên địa bàn huyện ĐA với mức hình phạt thấp hơn như Viện kiểm sát đề nghị là thỏa đáng.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công ăn, việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra đã thu giữ: 0,135 gam ma túy Methamphetamine (trích mẫu giám định 0,026 gam) và 03 vỏ túi nilon có dính ma túy Methamphetamine cần tịch thu tiêu hủy.
Tịch thu sung công quỹ nhà nước 02 điện thoại kèm sim (trong đó 01 điện thoại thu giữ của AT và 01 điện thoại thu giữ của An) là phương tiện sử dụng việc phạm tội và số tiền 300.000 đồng tiền do phạm tội mà có.
Tại lần phạm tội vào hồi 16 giờ ngày 16/12/2019 bị cáo đã thu lợi bất chính số tiền 300.000 đồng cần buộc bị cáo nộp lại để sung công quỹ nhà nước.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Các cơ quan tiến hành tố tụng của huyện ĐA thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thẩm quyền và các quy định khác về điều tra, truy tố và xét xử. Kết luận điều tra của công an ĐA, Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐA và đề nghị hình phạt áp dụng với bị cáo là đúng, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm b Khoản 2 Điều 251, Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:
Xử phạt: Bị cáo Trần AT 07 (bẩy) năm 03 (ba) tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2019.
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án xử:
+ Tịch thu tiêu hủy 0,135 gam ma túy Methamphetamine (trích mẫu giám định 0,026 gam) và 03 vỏ túi nilon có dính ma túy Methamphetamine.
+ Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động Iphone, 01 điện thoại di động Masstel kèm sim và số tiền 300.000 đồng.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09/3/2019 giữa Công an huyện ĐA, Thành phố Hà Nội và Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐA, Thành phố Hà Nội và Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 09/3/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐA, Thành phố Hà Nội).
+ Buộc Trần AT phải nộp lại số tiền 300.000 đồng tiền thu lợi bất chính của lần phạm tội trước.
Bị cáo Trần AT phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - UBND xã TL1, H.ĐA; - VKSND huyện ĐA; - Công an huyện ĐA; - Chi cục THADS huyện ĐA; - Sở TP Thành phố Hà Nội; - Lưu hồ sơ. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Trung Trực |