- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bi cao D bi xu phat toi tang tru ma tuy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Công D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự - Giao trả lại; Điều 116 Bộ luật hình sự Kết quả biểu
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2020/HS-ST Ngày: 01/7/2020 |
N HÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Ngọc Giàu
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Huỳnh Văn Dũng
- Ông Nguyễn Văn Tám
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Luông - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hùng và bà Nguyễn Thị Diệu Hiền.
Hôm nay, ngày 01 tháng 7 năm 2020 tại Trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 31/2020/HSST ngày 19 tháng 5 năm 2020; Theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 40/2020/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Công D, sinh năm 1991;
Nơi đăng ký hộ khẩu thƣờng trú và chổ ở hiện nay: Khu , thị trấn C, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang;
Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12;
Quốc tịch: Việt Nam;
Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Không
Con ông Nguyễn Văn B sinh năm 1954 và bà Lê Thị H sinh năm 1955;
(Ông B và bà H đã chết)
Anh, chị, em ruột có 02 ngƣời, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình.
Vợ: Nguyễn Thanh Th sinh năm 2000, có 01 ngƣời con sinh năm 2017;
Tiền án: Không;
Tiền sự: 01 lần. Ngày 16/9/2019, Nguyễn Công D bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phƣờng, thị trấn thời hạn 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quyết định số 256/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thị trấn Cái Bè, huyện Cái Bè. Ngày 17/12/2019, D đã chấp hành xong.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/02/2020, chuyển tạm giam từ ngày 20/02/2020 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Cái Bè.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Nguyễn Thanh Th, sinh năm 2000
Nơi thƣờng trú: Ấp M N, xã M T, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
* Người chứng kiến:
1. Lê Việt H, sinh năm 1978
Nơi thƣờng trú: Ấp A, xã A C, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
2. Nguyễn Văn L, sinh năm 1977
Nơi thƣờng trú: Ấp M H, xã A C, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa; chị Th, anh H, anh L vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Bị cáo Nguyễn Công D bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè truy tố về hành vi phạm tội nhƣ sau:
Vào khoảng 11 giờ ngày 11/02/2020, lực lƣợng Công an xã A C, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang phối hợp với Đội dân phòng xã A C và Trung đoàn Cảnh sát cơ động Tây Nam Bộ tuần tra trên tuyến đƣờng đan nông thôn thuộc tổ 11, ấp An Thái, xã An Cƣ, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, phát hiện Nguyễn Công D sinh năm 1991, thƣờng trú khu , thị trấn C, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang đang đứng cạnh xe môtô loại Honda biển số 63B1-513.15 đậu trên đƣờng đan khu vực trƣớc cổng nhà bà Lại Thị H sinh năm 1956, ở tổ 11, ấp A, xã A C, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra xe môtô biển số 63B1-513.15, lực lƣợng phát hiện trong cốp xe môtô biển số 63B1-513.15 có 01 bóp da màu nâu, bên trong bóp da có 01 giấy chứng nhận đăng ký xe môtô biển số 63B1-513.15, 01 giấy chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe tên Nguyễn Công D và tại ngăn nhỏ ngoài cùng bóp da có 02 gói nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể trong suốt, theo lời trình bày của D đó là ma túy nên lực lƣợng lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang và tạm giữ D cùng toàn bộ tang vật.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 bóp da màu nâu, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe môtô biển số 63B1-513.15, 01 giấy chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe tên Nguyễn Công D, 02 gói nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể trong suốt đƣợc niêm phong trong bao thƣ có chữ ký của Nguyễn Công D, Lê Việt H, Nguyễn Văn L, Đặng Hồng T, Lê Hoàng L, 01 đoạn ống thủy tinh, 01 cây kéo bằng kim loại, 01 hột quẹt gas trong cốp xe mô tô biển số 63B1-513.15, 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Pro trong túi quần phía trƣớc bên trái của Nguyễn Công D và 01 xe môtô biển số 63B1-513.15.
Kết luận giám định số 66/KLGĐ-PC09 ngày 13/02/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long kết luận: Mẫu tinh thể trong suốt bên trong 02 gói nylon đƣợc niêm phong trong bì thƣ gửi giám định là ma túy, có khối lƣợng 1,6867 gam, loại methamphetamine.
Sau giám định, hoàn lại mẫu tinh thể có khối lƣợng 1,6023 gam Methamphetamine kèm vỏ bao gói, toàn bộ mẫu vật đƣợc để trong bì thƣ niêm phong số 66/KLGĐ-PC09.
Quá trình điều tra xác định, Nguyễn Công D là đối tƣợng sử dụng ma túy, khoảng 17 giờ ngày 09/02/2020 Danh đem theo 01 con gà trống (loại gà tre) đi xe ôtô khách từ phòng trọ của nhà trọ “Hoa Giấy” ở xã Tân Nhuận Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp do chị Nguyễn Thanh Th, sinh năm 2000 (vợ D) thuê đến khu vực Bến xe miền tây thành phố Hồ Chí Minh đổi con gà tre cho một ngƣời không rõ họ tên, địa chỉ lấy 01 gói ma túy rồi đi về phòng trọ. D lấy một ít ma túy ra sử dụng, số ma túy còn lại D cất giấu trong bóp da để sử dụng. Đến khoảng 06 giờ ngày 11/02/2020, D tiếp tục đem theo 01 con gà trống (loại gà tre) đi xe khách đến khu vực Bến xe miền tây thành phố Hồ Chí Minh, D đổi con gà tre cho một ngƣời không rõ họ tên, địa chỉ lấy 01 gói ma túy (gói ma túy đƣợc để trong gói thuốc lá hiệu con mèo), D đi về nhà phòng trọ thuê ở huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp. Sau đó, D lấy gói ma túy trong gói thuốc lá cất giấu vào bóp da của D, sau đó để bóp da vào túi quần đang mặc rồi điều khiển xe môtô biển số 63B1-513.15 đi về nhà D ở thị trấn Cái Bè, huyện Cái Bè. Trên đƣờng đi, D vào cửa hàng xăng dầu không rõ biển hiệu mua xăng và để bóp da bên trong có 02 gói ma túy để vào cốp xe môtô biển số 63B1-513.15 rồi tiếp tục điều khiển xe 63B1-513.15 đến nhà bà Lại Thị H (mẹ vợ trƣớc D) ở tổ 11, ấp A, xã A C, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang thăm con D thì bị lực lƣợng Công an bắt quả tang đang tàng trữ trái phép chất ma túy.
Quá trình điều tra, Nguyễn Công D đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, phù hợp với tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập.
Tại bản cáo trạng số: 37/CT-VKSCB ngày 16/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè đã kết luận bị cáo Nguyễn Công D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với Nguyễn Thanh Th ở cùng phòng trọ với D nhƣng không biết việc Nguyễn Công D có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè trình bày bản luận tội truy tố bị cáo Nguyễn Công D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đƣợc quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng ngƣời đúng tội, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đại diện Viện kiểm sát nêu lên tình tiết giảm nhẹ, thành khẩn khai báo, ăn năm hối cải; đại diện Viện kiểm sát đề nghị tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Về vật chứng bị cáo dùng vào sử ma túy thì đề nghị tịch thu tiêu hủy, đối với tài sản là xe môtô và giấy tờ cá nhân của bị cáo thì đề nghị giao trả lại cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đƣợc thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Tại phiên tòa hôm nay, sau khi nghe Đại diện Viện kiểm sát công bố bản cáo trạng, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của những ngƣời làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác thu thập đƣợc có trong hồ sơ vụ án nên bản cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Bị cáo là ngƣời trƣởng thành, có đủ khả năng nhận thức về hành vi pháp luật của mình, ma tuý là chất nguy hại mà Nhà nƣớc nghiêm cấm tàng trữ dƣới mọi hình thức, tác hại của chất ma túy rất lớn khi sử dụng sẽ làm ảnh hƣởng đến sức khoẻ của con ngƣời, dẫn đến nhiều căn bệnh xã hội, là nguyên nhân dẫn đến nhiều tệ nạn mà không thể lƣờng trƣớc đƣợc nhƣ cƣớp giật, trộm cắp tài sản, thậm chí giết ngƣời, gây ảnh hƣởng rất lớn đối với thế hệ thanh thiếu niên nếu không làm chủ bản thân mà sử dụng phải ma túy, là nguyên nhân trực tiếp gây hủy hoại tƣơng lai xã hội, hành vi phạm tội của bị cáo cần xử lý một mức hình phạt thật nghiêm khắc để giáo dục bị cáo, biết tôn trọng pháp luật, đồng thời cũng nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung, cũng nhƣ răn đe thật nghiêm khắc đối với loại tội phạm về ma túy, số lƣợng chất ma túy mà bị cáo tàng trữ đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Xem xét cho bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên giảm nhẹ một phần hình phạt theo điểm s khoản 1 điều 51 bộ luật hình sự.
Về vật chứng: Do bị cáo tàng trữ ma túy nhầm mục đích sử dụng, không gì mục đích khác nên giao trả lại 01 giấy chứng nhận đăng ký xe môtô biển số 63B1-513.15, 01 giấy chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe tên Nguyễn Công D, 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Pro và 01 xe môtô biển số 63B1-513.15. Tịch thu tiêu hủy 01 bóp da màu nâu 01 đoạn ống thủy tinh, 01 cây kéo bằng kim loại, 01 hột quẹt gas,. 01 bao thƣ niêm phong số 66/KLGĐ-PC09 ngày 13/02/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long có chữ ký Nguyễn Thành T, Dƣơng Hồ L bên trong có vỏ bao gói loại Methamphetamine có khối lƣợng 1,6023 gam.
Chị Nguyễn Thanh Th do cáo trạng xác định không biết việc D tàng trữ ma túy, không truy tố nên Hội đồng không xem xét.
Xét thấy lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà về tội danh, mức hình phạt, xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Công D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Công D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/02/2020.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
- Giao trả lại cho bị cáo: 01 xe môtô biển số 63B1-513.15, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe môtô biển số 63B1-513.15, 01 giấy chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe tên Nguyễn Công D, 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Pro.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bóp da màu nâu, 01 đoạn ống thủy tinh, 01 cây kéo bằng kim loại, 01 hột quẹt gas và 01 bao thƣ niêm phong số 66/KLGĐ-PC09 ngày 13/02/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long có chữ ký Nguyễn Thành T, Dƣơng Hồ L bên trong có vỏ bao gói loại Methamphetamine có khối lƣợng 1,6023 gam.
4. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án năm 2009; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội.
Bị cáo D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án để xét xử phúc thẩm; chị Th có quyền kháng cáo tính từ ngày bản án đƣợc tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA * Nơi nhận:
- TAND tỉnh TG
- VKSND huyện Cái Bè
- Sở tƣ pháp tỉnh TG.
(Đã ký)
- Chi cục THA d/s huyện Cái Bè
- Bị cáo, các đƣơng sự
- Lƣu hồ sơ, án văn.
Võ Ngọc Giàu
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Cái Bè, ngày 26 tháng 7 năm 2017
BIEÂN BAÛN NGHÒ AÜN
TOAØ AÜN NHAÂN DAÂN HUYEÄN CAÜI BEØ
Vôùi Hoäi ñoàng xeùt xöû sô thaåm goàm coù:
Thaåm phaùn – Chuû toïa phieân toøa: Ông VÕ NGỌC GIÀU
Caùc Hoäi thaåm nhaân daân:
- Ông TRƢƠNG MINH TÚ
- Ông HUỲNH KIM PHỤNG
Caên cöù vaøo ñieàu 199 vaø ñieàu 222 cuûa Boä luaät toá tuïng hình söï;
Vaøo hoài......giờ......ngaøy 26 thaùng 7 naêm 2017, taïi phoøng nghò aùn, Hoäi ñoàng xeùt xöû sô thaåm ñaõ tieán haønh nghò aùn ñoái vôùi vuï aùn: “Dâm ô đối với trẻ em” – Bị cáo Huỳnh Văn Quốc.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã đƣợc thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng khác tại phiên toà; Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề phải giải quyết trong vụ án nhƣ sau:
1. Về tội danh:
- Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn Quốc đã phạm tội “Dâm ô đối với trẻ em”.
Kết quả biểu quyết: 3/3 (100%)
2. Về điều luật áp dụng (điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự):
- Áp dụng: điểm a khoản 2 Điều 116; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm h khoản 1 Điều 48; Điều 33 của Bộ luật hình sự
Kết quả biểu quyết: 3/3 (100%)
3. Về mức hình phạt:
Xöû phaït: Bị cáo Huỳnh Văn Quốc 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Kết quả biểu quyết: 3/3 (100%)
4. Về các vấn đề khác:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo; ngƣời bị hại; đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Đối với ngƣời vắng mặt thì thời hạn nêu trên tính từ ngày bản án đƣợc tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai.
Kết quả biểu quyết: 3/3 (100%)
Các hội thẩm nhân dân
| TRƯƠNG MINH TÚ – HUỲNH KIM PHỤNG | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà VÕ NGỌC GIÀU |