vanban.org

Bản án 37/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Mộc Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 16/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Hà Văn N 24 ( Hai mươi bốn) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 12/02/2020. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn Nam - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Hà Văn N 24 ( Hai mươi bốn) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘC CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 37/2020/HS-ST
Ngày 16/4/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Như Khánh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tường Duy Bình và bà Nguyễn Thị Hiền.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thùy Linh, Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Lý Hoàng Linh, Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2020, tại nhà tạm giữ Công an huyện Mộc Châu, Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 45/2020/TLST-HS ngày 20/3/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2020/QĐXXST-HS ngày 06/4/2020 đối với bị cáo:

Hà Văn N; Sinh năm 1991, tại huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Tiểu khu cấp III, thị trấn N, huyện M, tỉnh S; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Thái; giớ i tinh: Nam; tôn giáo: Không;

́ quốc ti ̣ch: Viê ̣t Nam; con ông Hà Văn Đ, con bà Hà Thị M; bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án: Ngày 03/5/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt 24 tháng tù giam về tội: Mua bán trái phép chất ma túy (chưa được xóa án tích), tiền sự: Không.

Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/02/2020 đến nay. Có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông: Hà Văn Đ, sinh năm 1958.

Địa chỉ: Tiểu khu cấp III, thị trấn N, huyện M, tỉnh S, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ ngày 12/02/2020, tổ công tác Công an thị trấn Nông Trường Mộc Châu làm nhiệm vụ tại tiểu khu 19/8, thị trấn Nông Trường Mộc Châu Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La kiểm tra Nam đang điều khiển xe máy, đã phát hiện thu giữ trong túi quần bên phải đang mặc của Hà Văn N 01 gói ni lon mầu hồng, bên trong đựng 02 viên mầu hồng trên bề mặt 02 viên đều có chữ WY, nghi là ma túy tổng hợp Methamphetamine. Nam khai nhận đó là ma túy tổng hợp Nam đi mua về để sử dụng, về nguồn gốc số ma túy mà có Nam khai mua của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết gặp ở tiểu khu 19/8, thị trấn Nông Trường Mộc Châu, huyện Mộc Châu.

Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang niêm phong vật chứng, dẫn giải Hà Văn N về Công an huyện Mộc Châu để điều tra làm rõ, tạm giữ của Nam 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha – EXciter mầu đen sám có BKS 26G1- 251.19.

Ngày 12/02/2020, cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Mộc Châu đã tiến hành mở niêm phong, xác định số lượng, khối lượng 02 viên nén mầu hồng trên bề mặt các viên điều có chữ WY nghi là ma túy tổng hợp Methamphetamine thu giữ của Hà Văn N có tổng khối lượng 0,2 gam, lấy toàn bộ 0,2 gam làm mẫu gửi giám định, mẫu ký hiệu “N”. Trưng cầu giám định xác định có phải ma túy không, loại ma túy gì, khối lượng của mẫu gửi giám định là bao nhiêu? Tổng khối lượng vật chứng thu giữ?

Tại bản kết luận giám định số 336 ngày 14/02//2020 của phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Sơn la kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu N là ma túy; loại Methamphetamine; tổng khối lượng mẫu gửi giám định là 0,2 gam; Tổng khối lượng chất ma túy thu giữ là 0,2 gam, loại Methamphetamine”.

Quá trình điều tra bị cáo giữ nguyên lời khai như trong quá trình bắt giữ.

Bản cáo trạng số 45/CT-VKS ngày 20/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố bị can Hà Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hà Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Hà Văn N từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ Hà Văn N, bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu, 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử ma túy Hà Văn N kết quả dương tính, 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ Hà Văn N tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 12/02/2020. Gồm 01 phong bì niêm phong cũ và chất bột mầu hồng thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu N không sử dụng đến trong quá trình giám định có khối lượng 0,15 gam.

Đề nghị tuyên trả cho ông Hà Văn Đ 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha – Exciter mầu sơn đen, sám có BKS 26G1- 251.19, sk RLCU1010KY138021, sm G3D4E904451, xe có 01 gương chiếu hậu bé, xe đã qua sử dụng cũ.

3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi và trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về hành vi: Ngày 12/02/2020, bị cáo Hà Văn N đã thực hiện hành vi cất giấu trái phép 0,2 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ vào khối lượng ma túy bị cáo cất giấu, mục đích tàng trữ đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Tại phiên toà, bị cáo giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan điều tra, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 12h 30 phút ngày 12/02/2020, phù hợp với vật chứng đã thu giữ, biên bản mở niêm phong xác định số lượng, khối lượng, lấy mẫu giám định, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý chất ma tuý của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Xét về nhân thân thấy rằng bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện hút chất ma túy. Bị cáo đã có một tiền án, ngày 03/5/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt 24 tháng tù giam về tội: Mua bán trái phép chất ma túy bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày tù ngày 09/10/2018 (chưa được xóa án tích). Do đó cần phải cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng huân chương chiến công hạng nhì, nên bị cáo được được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội trong thời gian chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng theo điểm h Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung - phạt tiền: Quá trình điều tra, xác minh và xét hỏi tại phiên toà thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản riêng gì có giá trị. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho bị cáo như bị cáo khai. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra, xử lý là đúng pháp luật.

Về vật chứng của vụ án:

Đối với 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ Hà Văn N, bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu, 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử ma túy Hà Văn N kết quả dương tính, 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ Hà Văn N tàng trữ trái phép chất ma túy xẩy ra ngày 12/02/2020. Gồm 01 phong bì niêm phong cũ và chất bột mầu hồng thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu N không sử dụng đến trong quá trình giám định có khối lượng 0,15 gam, là vật không có giá trị và vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe máy Yamaha – Exciter mầu đen có BKS 26G1- 251.19. thu giữ của bị cáo, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều khai nhận khai chiếc xe máy là tài sản chung của gia đình mua trả góp tại cửa hàng xe máy Bến Thủy với giá 49.000.000đ, và để cho bị cáo đứng tên trong đăng ký xe không phải là tài sản riêng của bị cáo. Hiện mới trả được 12.000.000đ cho Đại lý. Nên xác định chiếc xe máy là khối tài sản chung của gia đình bị cáo, việc bị cáo sử dụng chiếc xe máy vào việc phạm tội, gia đình bị cáo không biết nên không tịch thu mà cần tuyên trả lại cho gia đình bị cáo quản lý, sử dụng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Thờ i ha ̣n ta ̣m giam của bị cáo còn dưới 45 ngày nên Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Hà Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Hà Văn N 24 ( Hai mươi bốn) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 12/02/2020.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ Hà Văn N, bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu, 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử ma túy Hà Văn N kết quả dương tính, 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ Hà Văn N tàng trữ trái phép chất ma túy xẩy ra ngày 12/02/2020. Gồm 01 phong bì niêm phong cũ và chất bột mầu hồng thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu N không sử dụng đến trong quá trình giám định có khối lượng 0,15 gam.

Tuyên trả cho ông Hà Văn Đ 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha – Exciter mầu sơn đen, sám có BKS 26G1- 251.19, sk RLCU1010KY138021, sm G3D4E904451, xe có 01 gương chiếu hậu bé, xe đã qua sử dụng cũ.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ