- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thị Hồng V phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2020/HS-ST Ngày 28-7-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Quang Trung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thuận và ông Hoàng Quốc Tuấn.
- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Mai Huế – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà: Ông Lương Huy Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2020, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 35/2020/TLST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2020/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Lê Thị Hồng V, sinh ngày 19/11/1984, tên gọi khác: Không; Nơi ĐKNKTT: Tổ 1, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; Chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố H, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12, Nghề nghiệp: lao động tự do; Con ông Lê Văn Đ (đã chết) và bà Bùi Thị L - sinh năm 1960; Hiện cư trú tại tổ dân phố H, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; Chồng là Nguyễn Chiến T, Sinh năm: 1981 (đã ly hôn) và có hai con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2009; Hiện chồng, con cùng trú tại tổ 1, phường Nguyễn T, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2020, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Yên Bái – Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụliên quan:
1. Anh Nguyễn Trung K, sinh năm 1987; Đi ̣a chi: Tổ 11, phường N, thành phố Y,̉ tỉnh Yên Bái – Vắng mặt.
2. Anh Nguyễn Xuân T, sinh năm 1989; Địa chỉ: Tổ dân phố số 2, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Yên Bái – Vắng mặt.
3. Anh Trần Đình Q, sinh năm 1991; Đi ̣a chi: Tổ dân phố H, phường H, thành phố̉ Y, tỉnh Yên Bái – Có mặt.
- Người chứng kiến: Chị Trương Thị Ngọc M, sinh năm 1985; Địa chỉ: Tổ dân phố P, phườ ngN, thành phố Y, tỉnh Yên Bái – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ ngày 23/4/2020, tổ công tác của Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Yên Bái, đang làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 13 (thuộc phường N, thành Phố Y, tỉnh Yên Bái), phát hiện và bắt quả tang Lê Thị Hồng V (sinh năm: 1984 trú tại: tổ dân phố H, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái) đang có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Vật chứng thu giữ gồm: Tại túi áo khoác bên trái V đang mặc có 02 (hai) gói nilon mầu trắng có khóa kẹp bên trong đều chứa chất bột mịn mầu trắng; thu giữ bên trong chiếc ví giả da cầm tay mầu đen một mặt có nhiều chữ khác nhau gồm: 01 (một) gói nilon mầu trắng có khóa kẹp bên trong có chứa chất tinh thể mầu trắng; 14.000.000đ (Mười bốn triệu đồng); 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone mầu trắng, mặt trước mầu đen, bên ngoài được ốp mầu đen đã cũ, bị sập nguồn; 01 (một) chứng minh thư nhân dân số: 060759122 mang tên Lê Thị Hồng V ; 05 (năm) túi nilon mầu trắng có khóa kẹp bên trong không có gì; thu giữ trên bàn tay phải của V 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone mầu đen, bên ngoài được bọc bằng ốp mầu đen có hình và chữ khác nhau có số thuê bao 0949.792.664 đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc xe máy điện có chữ vespa, mầu trắng, biển kiểm soát 21M Đ1-026.63.
Lê Thị Hồng V khai nhận: 02 (hai) gói nilon mầu trắng bên trong có chất bột mịn mầu trắng để trong túi áo khoác bị thu giữ là ma túy loại Ketamin của V mua của Nguyễn Xuân T (sinh năm: 1989, trú tại tổ dân phố số 2, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Yên Bái vào khoảng ngày 13/4/2020 với giá 5.600.000đ (năm triệu sáu trăm nghìn đồng) và 01 (một) gói nilon mầu trắng có chứa hạt tinh thể mầu trắng thu giữ bên trong chiếc ví cầm tay là ma túy loại (Methamphetamine) của V nhặt được ở ven đường vào xóm B (thuộc tổ dân phố H, phường H, thành phố Yên Bái) trước khi bị bắt khoảng 2-3 tháng, toàn bộ số ma túy trên V cất dấu nhằm mục đích để sử dụng khi sinh nhật bạn bè gặp nhau.
Tiền hành khám xét khẩn cấp nơi ở, đồ vật đối với Lê Thị Hồng V tại tổ dân phố H, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái, phát hiện và thu giữ: Tại gầm bàn uống nước tại phòng khách 01 (một) chiếc cân tiểu ly điện tử, mầu bạc đã cũ; tại hộp để bật lửa tại giá để đồ trong phòng khách 03 (ba) túi nilon mầu trắng có khóa kẹp có kích thước khoảng 2 x 3cm; thu giữ bên trong hộp giấy dưới chân giá để đồ trong phòng khách 05 (năm) túi nilon mầu trắng có viền mầu đỏ có khóa kẹp kích thước khoảng 5 x 8cm.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Yên Bái tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở, đồ vật đối với Nguyễn Xuân T tại tổ dân phố số 2, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Yên Bái không thu giữ được ma túy.
Tại bản Kết luận giám định số: 77/GĐMT ngày 29/4/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Yên Bái kết luận:
Chất bột mịn mầu trắng thu giữ khi bắt quả tang Lê Thị Hồng V có tổng khối lượng là 0,73 gam (Không phẩy bảy mươi ba gam) gửi giám định là ma túy; loại Ketamine.
- Hạt tinh thể mầu trắng thu giữ khi bắt quả tang Lê Thị Hồng V có tổng khối lượng là 0,24 gam (Không phẩy hai bốn gam) gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine.
Bản cáo trạng số 35/CT-VKSTP ngày 08/7/2020, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái truy tố Lê Thị Hồng V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lê Thị Hồng V phạm tội “Tàng trư trái phép chất ma túy”.̃
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thị Hồng V từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/4/2020; Về hình phạt bổ sung: Không; Về vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣; Về án phí: Theo quy định của pháp luật.t
Tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, không có ý kiến tranh luận gì với luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử cho hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh Yên Bái, Công an thành phố Yên Bái, Điều tra viên, kết luận giám định của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứ ng kiến , vâ ̣t chứ ng thu giữ , kết luâ ̣n giám đi ̣nh , phù hợp với các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ ngày 23/4/2020, tại khu vực tổ 13, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Yên Bái đã bắt quả tang Lê Thị Hồng V có hành vi tàng trữ 02 gói ma túy, loại Ketamine có khối lượng 0,73 gam (không phẩy bảy mươi ba gam) và 01 gói ma túy, loại (Methamphetamine) có khối lượng 0,24 gam (không phẩy hai mươi tư gam) mục đích để sử dụng thì bị phát hiện và bắt quả tang.
Hành vi tàng trữ 0,73 gam ma túy, loại Ketamine và 0,24 gam ma túy, loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng của Lê Thị Hồng V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm các quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, bị cáo Lê Thị Hồng V là người có sức khỏe, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi của mình là vi phạm pháp luật , nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần đưa ra xét xử nghiêm minh. Cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội và răn đe phòng ngừa tội phạm.
Về tinh tiết tăng nă ̣ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều
̀ tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt; Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng, là người lao động tự do, hiện đang điều trị bệnh ung thư tuyến giáp nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng và tài sản thu giữ: 01 (Một) phong bì niêm phong vật chứng (sau khi đã lấy mẫu giám định); 05 (năm) vỏ phong bì đã mở niêm phong, 02 (hai) vỏ túi nilon màu trắng; 05 (năm) túi nilon mầu trắng có viền mầu đỏ có khóa kẹp kích thước khoảng 5x8cm; 01(một) chiếc cân điện tử mầu bạc; 03 túi nilon mầu trắng có khóa kẹp, kích thước 2x3cm và 05 túi nilon mầu trắng viền mầu đỏ có khóa kẹp kích thước khoảng 5x8cm, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/7/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Yên Bái và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Yên Bái. Xét thấy không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc xe máy điện BKS: 21M Đ1-026.63 thu giữ khi bắt quả tang Lê Thị Hồng V. Quá trình điều tra đã xác định chiếc xe mô tô này là của anh Nguyễn Trung K, (SN: 1987,cư trú tại tổ 11, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái) là chủ sở hữu cho V mượn. Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh K là chủ sở hữu hợp pháp quản lý và sử dụng.
Đối với các tài sản và đồ vật Cơ quan điều tra tạm giữ trong quá trình điều tra và đã trả lại cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 chiếc ví giả da mầu đen; 01 (một) chứng minh nhân dân số: 060759122 mang tên Lê Thị Hồng V; 02 (hai) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone gồm: 01 chiếc mầu trắng mặt trước mầu đen và 01 chiếc mầu đen, có ốp mầu đen, đều đã qua sử dụng là những tài sản hợp pháp của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.
Đối với Nguyễn Xuân T (sinh năm: 1989, trú tại tổ dân phố số 2, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Yên Bái, theo lời khai của Lê Thị Hồng V là người đã bán ma túy, loại Ketamine cho V vào khoảng ngày 13/4/2020. Quá trình điều tra T không thừa nhận và không đủ tài liệu, căn cứ chứng minh Nguyễn Xuân T đã bán ma túy cho V nên Cơ quan cảnh sát điều tra không đủ căn cứ để xử lý T trong vụ án này.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, ngườ i có quyền lợi nghia vu ̣̃
liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Thị Hồng V phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự:
̀
Xử phạt Lê Thị Hồng V 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/4/2020.
3. Về vật chứng và tài sản thu giữ: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự.
̀ Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy: 0,42 gam Ketamine và 0,165 gam Methamphetamine được niêm phong trong phong bì do phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái phát hành. Mặt trước ghi: Vật chứng thu giữ của Lê Thị Hồng V – phạm tội về ma túy thu giữ tại tổ 13, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái ngày 23/4/2020 (Sau khi đa trích̃ mẫu giám đi ̣nh ). Mặt sau các mép được dán kín có chữ ký, họ và tên của Trương Xuân Ngọc, Nguyễn Thị Bích Thủy, Bùi Phan Hà, Trần Nhật Tân, Lê Thị Hồng V và 04 hình dấu tròn đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái. 05 (năm) vỏ phong bì đã mở niêm phong, 02 (hai) vỏ túi nilon màu trắng; 05 (năm) túi nilon mầu trắng có viền mầu đỏ có khóa kẹp kích thước khoảng 5x8cm; 01(một) chiếc cân điện tử mầu bạc; 03 túi nilon mầu trắng có khóa kẹp, kích thước 2x3cm và 05 túi nilon mầu trắng viền mầu đỏ có khóa kẹp kích thước khoảng 5x8cm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/7/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Yên Bái và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Yên Bái.
- Trả lại cho bị cáo Lê Thị Hồng V 01 chiếc ví giả da mầu đen; 01 (một) chứng minh nhân dân số: 060759122 mang tên Lê Thị Hồng V; 02 (hai) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone gồm: 01 chiếc mầu trắng mặt trước mầu đen và 01 chiếc mầu đen, có ốp mầu đen, đều đã qua sử dụng.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, giảm, miễn, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Thị Hồng V phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, ngườ i có quyền lợi nghia vu ̣̃
liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngườ i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ, theo quy định của pháp luật.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Yên Bái; - VKSND tỉnh Yên Bái; - Sở tư pháp tỉnh Yên Bái; - VKSND TP Yên Bái; - Công an TP Yên Bái; - Chi cục THADS TP Yên Bái; - Bị cáo; - Ngườ i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - THA hình sự; Lưu hồ sơ, TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Đã ký Bùi Quang Trung |