- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ: Các Điều 106, 136, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí, lệ phí; Nghị quyết số 326/ 2016/ NQ – UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Luật Phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/ 2020/ HS - ST Ngày: 23 – 7 – 2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Văn Phong
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Anh Kiều
Ông Lưu Xuân Hiến
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Ngô Diệu Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2020, tại Nhà Văn hóa Tổ dân phố Phố Mới, phường Cải Đan, Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 35/2020/TLST - HS ngày 24 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/ 2020/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Mạnh C, sinh ngày 25 tháng 02 năm 1987, tại: Sông Công – Thái Nguyên; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố Phố Mới, phường Cải Đan, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): lớp 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Phạm Văn P và bà Nguyễn Thị M; bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 23/6/2006, bị cáo C bị Công an phường Phố Cò xử phạt hành chính, phạt tiền 200.000 đồng về hành vi phạm an ninh trật tự. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Sông Công từ ngày 24/4/2020 cho đến nay (Có mặt).
- Người chứng kiến:
+ Bà Lưu Thị H, sinh năm 1965; địa chỉ: Tổ dân phố Phố M, phường C, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên (Có mặt).
+ Anh Trần Đức H1, sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ dân phố Tân Lập, phường Thắng Lợi, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 24/4/2020, tại Tổ dân phố Phố Mới, phường Cải Đan, thành phố Sông Công. Tổ công tác Công an thành phố Sông Công phát hiện, thu giữ của Phạm Văn C 01 túi nilong bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng (nghi là ma túy), Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng, chuyển Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố giải quyết theo thẩm quyền (bút lục: 19, 20).
Hồi 22 giờ 30 phút cùng ngày, tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Văn C, thu giữ: 01 cân điện tử không rõ nhãn hiệu màu trắng; 01 cuộn giấy bạc dài 50cm, đường kính 3cm; 01 vỏ chai nước nhãn hiệu Wake-up247 nắp chai có gắn 02 ống hút; 01 ống thủy tinh dài 10cm, đường kính 0,7cm một đầu cong; 02 vỏ túi nilon màu trắng, viền màu xanh, kích thước lần lượt là (1,5x1,5) cm và (1,5x2) cm (bút lục: 23 - 24).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Phạm Mạnh C khai, C là người nghiện chất ma túy, nên khoảng 19 giờ ngày 24/4/2020, C đi nhờ xe đến khu vực ngã tư Khu công nghiệp Sông Công tìm mua ma túy sử dụng. Khi đến ngã tư Khu công nghiệp, C gặp một người đàn ông khoảng 35 tuổi, mặc áo màu nâu đen, đeo khẩu trang (C không biết tên tuổi, địa chỉ), do trước đó C đã nhiều lần mua ma túy của người này, nên khi gặp C hỏi: Để cho một nửa (ý hỏi mua 1/2 gam ma túy), đồng thời C lấy tiền trong người đưa cho người đàn ông đó 400.000 đồng và được người này đưa cho một túi nilon bên trong có chứa các viên ma túy tổng hợp dạng đá. C cầm ma túy đi về nhà, khi về đến tổ dân phố Phố Mới, phường Cải Đan thì bị Công an bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên. Lời khai của bị cáo C phù hợp với lời khai người chứng kiến Lưu Thị H và Trần Đức H1 theo nội dung trong biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại bản Kết luận giám định số: 2363/C09-TT2 ngày 29/4/2020 của Viện kH học hình sự Bộ Công an, kết luận: Tinh thể màu trắng trong niêm phong kí hiệu C1 gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine, khối lượng: 0,504 gam (bút lục 29).
Về vật chứng và đồ vật liên quan trong vụ án: 01 bì niêm phong niêm phong dán kín, số 2363/C09(TT2), mặt sau có các dấu của Viện kH học hình sự Bộ Công an (bên trong có 0,469 gam ma túy Methamphetamine); 01 cân điện tử không rõ nhãn hiệu màu trắng; 01 cuộn giấy bạc dài 50cm, đường kính 3cm (đang dùng dở); 01 vỏ chai nước nhãn hiệu Wake-up247 nắp chai có gắn 02 ống hút; 01 ống thủy tinh dài 10cm, đường kính 0,7cm, một đầu cong; 02 vỏ túi nilon màu trắng, viền màu xanh, kích thước lần lượt là (1,5x1,5)cm và (1,5x2)cm đã được chuyển, bảo quản theo quy định về quản lý vật chứng.
Tại bản cáo trạng số 36/ CT-VKS ngày 22/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Phạm Mạnh C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo C về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo C từ 24 đến 30 tháng tù; về vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo C còn lại sau giám định và những đồ vật bị cáo dùng để sử dụng trái phép chất ma túy và vật không còn giá trị sử dụng; về án phí: buộc bị cáo C pH1 chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo C không có ý kiến tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng, quá trình bị giam giữ bị cáo đã nhận thức được lỗi lầm của mình và ăn năn hối cải do lỗi lầm của mình đã gây ra, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Sông Công, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại giai đoạn điều tra và phiên tòa, bị cáo C đã khai nhận toàn bộ hành vi, diễn biến nội dung sự việc đúng như nội dung kết luận điều tra và cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 24/4/2020, tại khu vực Tổ dân phố Phố Mới, phường Cải Đan, thành phố Sông Công, Phạm Mạnh C đang tàng trữ trái phép 0,504 gam chất ma túy, loại Methamphetamine, mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Công an thành phố Sông Công bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Hành vi nêu trên của bị cáo C đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Nội dung điều luật quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) .., Methamphetamine, …có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;…”.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng chất ma tuý, gây mất trật tự an toàn xã hội.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo C sinh ra, lớn lên tại địa phương, được gia đình nuôi ăn học hết lớp 9/12, sau đó ở nhà lao động tự do. Bị cáo hiện không có tiền án, tiền sự; tuy nhiên năm 2006 đã từng bị Công an phường Phố Cò xử phạt hành chính, phạt tiền về hành vi báo thông tin giả đến các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo C được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không pH1 chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Căn cứ vào tính chất của vụ án, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, trong vụ án này, bị cáo có ít tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên cần pH1 xét xử bằng án phạt tù nghiêm khắc, buộc bị cáo pH1 cách ly xã hội một thời gian theo đề nghị của Viện kiểm sát mới đủ điều kiện để giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, để xét xử bị cáo mức án phạt tù phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo C mua ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân, nên xét không cần thiết áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về nguồn gốc ma túy đã thu giữ, bị cáo C khai mua của một người đàn ông khoảng 35 tuổi, không rõ lai lịch, tại ngã tư Khu công nghiệp Sông Công. Đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý theo quy định pháp luật.
Về vật chứng của vụ án: Số ma túy thu giữ của bị cáo C còn lại sau giám định; 01 cân điện tử không rõ nhãn hiệu màu trắng; 01 cuộn giấy bạc; 01 vỏ chai nước nhãn hiệu Wake-up247 nắp chai có gắn 02 ống hút; 01 ống thủy tinh dài 10cm, đường kính 0,7cm một đầu cong; 02 vỏ túi nilon màu trắng, viền màu xanh là những vật Nhà nước cấm tàng trữ; liên quan đến việc sử dụng trái phép chất ma túy và vật không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo C bị kết án, nên bị cáo pH1 chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Mạnh C được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ: Các Điều 106, 136, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí, lệ phí; Nghị quyết số 326/ 2016/ NQ – UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Mạnh C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Phạm Mạnh C 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/ 4/ 2020.
* Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Phạm Mạnh C.
3. Về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn: Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Phạm Mạnh C 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo cho việc thi hành án.
4. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong dán kín, số 2363/C09(TT2), mặt sau có các dấu của Viện kH học hình sự Bộ công an (bên trong có 0,469 gam ma túy, loại Methamphetamine); 01 cân điện tử không rõ nhãn hiệu màu trắng; 01 cuộn giấy bạc dài 50cm, đường kính 3cm (đang dùng dở); 01 vỏ chai nước nhãn hiệu Wake-up247 nắp chai có gắn 02 ống hút; 01 ống thủy tinh dài 10cm, đường kính 0,7cm, một đầu cong; 02 vỏ túi nilon màu trắng, viền màu xanh, kích thước lần lượt là (1,5x1,5)cm và (1,5x2)cm. (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/ 7/ 2020 giữa Công an và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sông Công).
5. Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Mạnh C pH1 chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp vào Ngân sách Nhà nước.
6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo Phạm Mạnh C. Báo cho bị cáo C biết, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND TP. Sông Công; - Công an TP. Sông Công; - Bị cáo; - UBND phường Cải Đan (kèm TB Kq XX); - THA h.sự, d.sự ; - Lưu: | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Dƣơng Văn Phong |