- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thanh H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1 Tuyên bố bị cáo Trần Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2020/HS-ST Ngày: 26 - 02 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Bích Liễu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Xuân Tuất và ông Doãn Đức Hùng.
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trìu A Sám - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2020/TLST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2020/QĐXXST-HS ngày 11/02/2020 đối với bị cáo:
Trần Thanh H, sinh ngày 27/12/1988 tại Đồng Nai; Nơi cư trú: số 36, ấp B, xã B1, huyện T, tỉnh Đ; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Trọng Kh, sinh năm 1965 và con bà Trần Thị Kim Th, sinh năm 1968; Chưa có vợ, con; Tiền án, Tiền sự: không; Bị giam giữ từ ngày 26/11/2019, đến ngày 20/01/2020 được hủy bỏ biện pháp tạm giam; Bị cáo tại ngoại. (Có mặt)
Người làm chứng: Đặng Thị Kim L, sinh năm 1969. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Thanh H là đối tượng sử dụng ma túy từ năm 2015. Vào khoảng 20 giờ ngày 24/11/2019, H đi xe taxi đến khu vực đường 5, thành phố Biên Hòa, gặp một người bạn mới quen (không rõ nhân thân, lai lịch) nhờ mua 01 gói ma túy với giá 1.000.000 đồng. H chia lại cho người bạn một ít ma túy, số ma túy còn lại H cất giấu đem về Trảng Bom với mục đích để sử dụng cho bản thân. Khoảng 14 giờ ngày 25/11/2019, H mang theo ma túy và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đến thuê phòng số 8 nhà nghỉ Song Nghi, thuộc ấp B, xã B1, huyện T, tỉnh Đ để nghỉ. Đến tối cùng ngày, H lấy một ít ma túy ra sử dụng, số ma túy còn lại H để trong rổ đựng giấy trong phòng rồi đi ngủ. Đến 08 giờ 30 phút ngày 26/11/2019, Công an huyện Trảng Bom phối hợp với Công an xã Bình Minh, huyện Trảng Bom kiểm tra hành chính Nhà nghỉ Song Nghi, bắt quả tang H đang tàng trữ trái phép 01 gói ma túy. Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 điện thoại di động Nokia số sim 0355.197.061 và 01 điện thoại Iphone 11 Promax màu xanh rêu, số sim 0937.222.179.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã trưng cầu giám định số ma túy nêu trên. Tại bản kết luận giám định số 1541/KLGĐ-PC09 ngày 03/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,6742 gam loại Methamphetamine.
Về vật chứng: 01 điện thoại di động Nokia số sim 0355.197.061 và 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax màu xanh rêu số sim 0937.222.179 của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan điều tra Công an huyện Trảng Bom đã trả lại cho gia đình bị cáo.
Đối với đối tượng mua ma túy cho H ở khu vực đường 5, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai do H không biết tên tuổi và địa chỉ nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom tách ra tiếp tục xác minh làm rõ, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.
Tại bản cáo trạng số 54/CT-VKS-TB ngày 04 tháng 02 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom truy tố bị cáo Trần Thanh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Nay gọi tắt là Bộ luật Hình sự).
Tại phiên tòa, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo H từ 01 năm đến 01 năm 04 tháng tù.
2. Về vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.
3. Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội nêu trên, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai người làm chứng. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 26/11/2019, tại phòng số 08 nhà nghỉ Song Nghi ấp B, xã B1, huyện T, tỉnh Đ, bắt quả tang bị cáo Trần Thanh H đang tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 0,6742 gam, loại Methamphetamine nhằm mục đích để bị cáo sử dụng. Vì vậy, hành vi của bị cáo Trần Thanh H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; Vì ma túy là loại độc dược gây nghiện nên Nhà nước độc quyền quản lý, Nhà nước nghiêm cấm các hoạt động tàng trữ trái phép chất ma túy.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy 01 phong bì niêm phong chứa ma túy sau giám định số 1541/KLGĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Nai và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy theo điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử là phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:
1.1 Tuyên bố bị cáo Trần Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1.2 Xử phạt bị cáo Trần Thanh H 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị áp giải để chấp hành án phạt tù, nhưng được trừ thời gian giam giữ từ ngày 26/11/2019 đến ngày 20/01/2020.
2. Căn cứ vào điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau khi giám định được đựng trong 01 phong bì niêm phong số 1541/KLGĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Nai và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (Hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/02/2020).
3. Căn cứ vào điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai ; - VKSND H. Trảng Bom; tỉnh Đồng Nai; - Cơ quan điều tra CAH. Trảng Bom; - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Bị cáo; - THA, Löu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đinh Thị Bích Liễu |