- Tranh chấp gì? án hình sự — "An Minh T (tên gọi khác: An Văn T) - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo An Minh T (tên gọi khác: An Văn T) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2020/HS-ST Ngày: 23-6-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Đức Chính.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Triệu Duy Tỏi
Ông Nguyễn Ngọc Nghiêm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Quang Khuyến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Chinh - Kiểm sát viên.
Ngày 23/6/2020, tại trụ sở Liên đoàn Lao động huyện Thanh Miện xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 41/2020/TLST-HS ngày 29/5/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2020/QĐXXST-HS ngày 11/6/2020, đối với bị cáo:
An Minh T (tên gọi khác: An Văn T), sinh ngày 24/9/1998 tại Hải Dương; nơi cư trú: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông An Văn T1 và bà Vũ Thị X; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 05/4/2020, chuyển tạm giam từ ngày 08/4/2020 đến nay, tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương; có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
1. NLC1,
2. NLC2.
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ ngày 05/4/2020, An Minh T đi nhờ xe của người đi đường từ xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương đến khu vực cầu T thuộc địa phận huyện P, tỉnh Hưng Yên tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến cầu Tràng, T xuống xe gặp người đàn ông tên H (không rõ tuổi, địa chỉ) hỏi và mua được 03 gói nilon trong chứa ma túy đá với giá 900.000 đồng, cất vào túi quần phía sau bên trái đang mặc rồi đi bộ đến nhà NLC1, ở thôn B, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương chơi. Đến 15 giờ cùng ngày, T lên tầng 2 gặp NLC1 và ngồi uống nước, nói chuyện thì có NLC2, ở thôn Đ, xã T, huyện T đến chơi, uống nước. Khi T đang ngồi uống nước cùng với NLC1 và NLC2 thì bị lượng công an huyện Thanh Miện kiểm tra. T dùng tay trái lấy 02 gói ma túy đá trong túi quần định vút đi thi bị phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng gồm: 02 gói nilon chứa ma túy đá trong lòng bàn tray trái và 01 gói nilon chứa ma túy đá trong túi quần phía sau bên trái T đang mặc.
Tại kết luận giám định số 185/KLGĐ-PC09 ngày 08/4/2020, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng niêm phong trong phong bì ghi thu của An Minh T gửi đến giám định có khối lượng là 0,844 gam gam là ma túy, loại Methamphetamine. Hoàn lại mẫu vật sau giám định là 0,720 gam Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số 42/CT-VKS ngày 29/5/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương truy tố An Minh T (tên gọi khác: An Văn T) ra trước Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện để xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo An Minh T thừa nhận hành vi phạm tội, công nhận quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện là đúng và xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo An Minh T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 19 đến 21 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 05/4/2020; về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,720 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định; về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Luật phí và lệ phí. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo không tranh luận.
Nói lời sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thanh Miện, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ xác định bị cáo có tội: Lời khai của bị cáo An Minh T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 15 giờ ngày 05/4/2020, tại phòng ngủ tầng hai của gia đình NLC1, ở thôn B, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương, An Minh T có hành vi cất giấu trái phép 0,844 gam Mathamphetamine với mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Bị cáo An Minh T có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ chất ma túy là hành vi trái pháp luật, trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, đồng thời xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, nhưng vẫn cố ý thực hiện, nên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện thực hành quyền công tố đã luận tội đối với bị cáo là có cơ sở, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội. Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng với bị cáo mức hình phạt tù tương xứng để giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phục vụ công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định và không có tài sản riêng, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ và vỏ bao bì của mẫu vật gửi giám định không có giá trị, được tổ chức giám định hoàn lại sau khi giám định xong cần tịch thu và tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo An Minh T bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo An Minh T (tên gọi khác: An Văn T) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo An Minh T (tên gọi khác: An Văn T) 19 (mười chín) tháng tù, thời hạn tính từ ngày 05/4/2020.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu và tiêu hủy 0,720 gam Methamphetamine cùng vỏ bao bì của mẫu vật gửi giám định, được Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương hoàn lại trong niêm phong số 185/KLGĐ-PC09 sau khi giám định xong (vật chứng có đặc điểm ghi tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/6/2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Miện và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Miện).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo An Minh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo được kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 23/6/2020.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Thanh Miện; - VKSND tỉnh Hải Dương; - CQ CSĐT Công an huyện Thanh Miện; - CQ THAHS Công an tỉnh Hải Dương; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương; - Bộ phận HSNV Công an huyện Thanh Miện; - Chi cục THADS huyện Thanh Miện; - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Đức Chính |