- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phạm Minh Đức phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Minh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2020/HS-ST. Ngày 15/7/2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Anh Tuấn.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Vũ Thị Hoàn;
2. Bà Đoàn Thị Duyên.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Mười - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2020/HSST ngày 29 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2020/QĐST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Minh Đ, sinh ngày 12/10/1990.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ 32, phường Pom Hán, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú: thôn 5, xã Vũ, huyện K, tỉnh Thái Bình; Trình độ văn hóa: Lớp 7/10. Nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Kim T, sinh năm 1954 và bà Phùng Thị T, sinh năm 1962; gia đình có có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; chưa có vợ con; Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân Thân: Tại Bản án 14/HSPT ngày 24/02/2011, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cướp tài sản”. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 04/3/2020 đến ngày 10/3/2020 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Kiến Xương. (có mặt).
* Người bào chữa: (có mặt).
Ông Lê Chí D – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thái Bình
* Người làm chứng:
Anh Hoàng Văn G, sinh năm 1985. (vắng mặt).
Trú tại: thôn Đ, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình.
* Người chứng kiến:
Ông Lê Văn M, sinh năm 1965. (vắng mặt).
Ông Tạ Văn A, sinh năm 1957. (vắng mặt).
Đều trú tại: thôn 5, xã V, huyện K tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 12 giờ 50 phút ngày 04/3/2020, tại đoạn đường liên xã thuộc thôn 5 xã Vũ Thắng huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình, tổ công tác Công an huyện Kiến Xương phát hiện Phạm Minh Đ có biểu hiện nghi vấn liên quan đến hoạt động tội phạm ma túy nên đã yêu cầu kiểm tra. Kết quả kiểm tra, thu tại túi quần đang mặc phía trước bên phải của Đ 01 gói nhỏ bên ngoài gói bằng nilong màu trắng, tiếp đến là giấy tráng kim màu trắng trong cùng là chất bột màu trắng dạng cục có khối lượng 0,1573 gam ma túy loại Hêrôin.
Quá trình điều tra, Phạm Minh Đ khai nhận: Do bản thân mắc nghiện ma túy và nghe các đối tượng nghiện khác nói ở khu vực cầu Cống Trắng thành phố Thái Bình có đối tượng bán ma túy, khoảng 11 giờ 45 phút ngày 04/3/2020, Phạm Minh Đ một mình đi lên khu vực cầu Cống Trắng thành phố Thái Bình. Đến nơi, Đ gặp một người phụ nữ khoảng 30 tuổi không biết tên và địa chỉ, nghĩ người này bán ma túy Đ hỏi: “Có hàng không bán cho một trăm”. Người phụ nữ gật đầu đồng ý, Đ đưa 100.000 đồng cho người phụ nữ và người này đưa lại cho Đ 01 gói bên ngoài gói bằng nilong màu trắng, tiếp đến là giấy tráng kim màu trắng trong cùng là Hêrôin. Đ nhận gói ma túy và cất vào túi quần đang mặc phía trước bên phải của mình rồi đi về nhà. Đến khoảng 12 giờ 50 phút cùng ngày, Đ về đến khu vực đường liên xã thuộc thôn 5 xã Vũ Thắng huyện Kiến Xương thì bị tổ công tác Công an huyện Kiến Xương kiểm tra bắt quả tang thu giữ gói Hêrôin trên. Đức khai mua về để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị công an huyện Kiến Xương bắt quả tang.
Tại phiên toà bị cáo Phạm Minh Đ khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu ở trên.
Tại bản cáo trạng số 36/CT - VKSKX ngày 29/5/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Phạm Minh Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c, khoản 1, điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phạm Minh Đ về tội danh và điều luật như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo trong vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Phạm Minh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, 2 điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc Hội.
Xử phạt bị cáo Phạm Minh Đ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/3/2020.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì hoàn trả mẫu vật đựng trong phong bì niêm phong số 77/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.
Về án phí: Bị cáo Phạm Minh Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Người bào chữa: Bố bị cáo ông Phạm Kim T là người có công với cách mạng được hưởng chế độ chất độc hóa học nên đề nghị cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo sớm về với gia đình và xã hội.
Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Kiến Xương, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và đã được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình lập hồi 12 giờ 55 phút ngày 04/3/2020 tại khu vực đường liên xã thuộc thôn 5 xã Vũ Thắng huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình; Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu do Công an huyện Kiến Xương lập hồi 14 giờ 00 phút ngày 04/3/2020 tại đoạn đường liên xã thuộc thôn 5 xã Vũ Thắng huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình. Kết luận giám định số 77/KLGĐ- PC09 ngày 05/3/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Hêrôin) có khối lượng 0,1573 gam. Lời khai của người làm chứng là anh Hoàng Văn G, sinh năm 1985 trú tại thôn Đ, xã B, huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình khai: Khoảng 12 giờ 50 phút ngày 04/3/2020 tại đoạn đường liên xã thuộc thôn 5 xã Vũ Thắng huyện Kiến Xương, anh Giáp được chứng kiến việc Công an huyện Kiến Xương kiểm tra người thanh niên cùng đi trên đường. Người này khai tên là Phạm Minh Đ, sinh năm 1990 hộ khẩu thường trú tại tổ 32 phường Pom Hán, thành phố Lào Cai tỉnh Lào Cai, chỗ ở hiện nay thôn 5, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình. Thu giữ tại túi quần đang mặc phía trước bên phải của Đ 01 gói nhỏ bên ngoài gói bằng nilong màu trắng, tiếp đến là giấy tráng kim màu trắng trong cùng là chất bột màu trắng dạng cục. Đ khai nhận đây là Hêrôin vừa mua trên thành phố Thái Bình về sử dụng cho bản thân. Lời khai của người chứng kiến là ông Lê Văn M, sinh năm 1965 và ông Tạ Văn A, sinh năm 1957 đều trú tại thôn 5 xã Vũ Thắng huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình khai: Khoảng 12 giờ 50 phút ngày 04/3/2020, tại đường liên xã thuộc thôn 5 xã Vũ Thắng huyện Kiến Xương, hai ông được Công an huyện Kiến Xương mời chứng kiến việc Công an huyện Kiến Xương kiểm tra người một nam thanh niên tên là Phạm Minh Đ, sinh năm 1990, hộ khẩu thường trú tại tổ 32 phường Pom Hán, thành phố Lào Cai tỉnh Lào Cai, chỗ ở hiện nay thôn 5 xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình. Thu giữ tại túi quần đang mặc phía trước bên phải của Đ 01 gói nhỏ bên ngoài gói bằng nilong màu trắng, tiếp đến là giấy tráng kim màu trắng trong cùng là chất bột màu trắng dạng cục. Đ khai nhận đây là Hêrôin, Đ mua về sử dụng cho bản thân và phù hợp với những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
[3] Từ căn cứ nêu trên hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Phạm Minh Đức đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) ….
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
……….
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cầm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về chất gây nghiện. Ma túy không những làm sa sút sức khỏe, trí tuệ con người mà còn hủy hoại đạo đức nhân cách con người, là tác nhân lan truyền căn bệnh HIV/AIDS là nguồn gốc phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Bị cáo biết tác hại của ma túy nhưng vẫn tàng trữ ma túy để sử dụng. Về nhân thân bị cáo tại Bản án 14/HSPT ngày 24/02/2011, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt bị cáo 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Cướp tài sản. Vì vậy phải xử lý nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới tương xứng mức độ phạm tội của bị cáo, có tác dụng giáo dục đối với bị cáo phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự, bố đẻ bị cáo là người có công với cách mạng nên được hưởng tình tiết quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Ngoài hình phạt tù trong điều luật còn quy định: Người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, bị cáo tàng trữ mục đích để sử dụng, là lao động tự do không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: Số ma túy cơ quan Công an huyện Kiến Xương thu giữ của bị cáo nay cần tịch thu tiêu hủy số ma túy thu của bị cáo sau giám định hoàn lại đựng trong 01 phong bì niêm phong số 77/KLGĐ- PC09 ngày 05/3/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.
[8] Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo Phạm Minh Đ khai mua ma túy của một người phụ nữ khoảng 30 tuổi không biết tên và địa chỉ ở khu vực cầu Cống Trắng thành phố Thái Bình, Cơ quan điều tra không xác định được người bán nên không có căn cứ xử lý.
[9] Về án phí: Bị cáo Phạm Minh Đ phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc Hội.
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Minh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Minh Đ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 04/3/2020.
3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,1190 gam Heroin sau giám định hoàn lại đựng trong phong bì niêm phong số 77/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình ghi “Vật chứng thu giữ của Phạm Minh Đ, sinh năm 1990 trú tại tổ 32 phường Pom Hán, thành phố Lào Cai tỉnh Lào Cai"
(Vật chứng trên được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình quản lý).
4. Về án phí: Bị cáo Phạm Minh Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Minh Đ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Kiến Xương; - Công an huyện Kiến Xương; - THADS huyện Kiến Xương; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Phan Anh Tuấn |