vanban.org

Bản án 37/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên Tuyên án 10/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tu ên bố bị cáo Lê Văn G phạm tội "Tàn trữ trái phép chất ma tú ".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Văn G 13 (mười ba) tháng tù. Khấu trừ cho bị cáo 03 n à bị tạm iữ, bị cáo còn phải thi hành 12 (mười hai) tháng 27 (hai mươi bẩ ) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ n à bị cáo có mặt tại trụ sở cơ quan thi hành án hình sự để thi hành hoặc n à bị áp iải t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn G - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tu ên bố bị cáo Lê Văn G phạm tội "Tàn trữ trái phép chất ma tú ".
  • Căn cứ chính? Điều 331 Bộ luật tố tụn hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị định số 19/2018/NĐ-CP Quy định về việc tính tổng khối l…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 37/2020/HS-ST
Ngày: 10/3/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông N u n Thanh N c

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông N u n Quang Khải

2. Bà N u n Thị Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Châm - Thư ký Toà án nhân dân hu ện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên toà: Bà N u n Thị Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân hu ện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm côn khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2020/TLST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2020 theo qu ết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2020/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 2 năm 2020 đối với bị cáo:

Lê Văn G, tên i khác: không; sinh ngày: 05/8/1949 tại Thái Bình;

Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Đội 3, thôn Th, xã N, hu ện Đ, tỉnh Điện Biên;

N hề n hiệp: làm ruộn ; Trình độ văn hoá: 04/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn D (Đã chết) và bà N u n Thị N (Đã chết), có vợ là Bùi Thị Đ (Đã chết) bị cáo có 04 con. Tiền án: không; tiền sự: khôn ; Nhân thân: trước khi bị bắt chưa bị xử lý về hành vi vi phạm pháp luật ì; Bị cáo bị bắt, tạm iữ từ n à 20/11/2019 đến n à 23/11/2019, từ n à 23/11/2019 bị áp dụn biện pháp n ăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú" cho đến na , có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Chị Lê Thị Th, sinh năm 1985, địa chỉ: Đội 3, thôn Th, xã N, hu ện Đ, tỉnh Điện Biên (Có mặt).

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Ôn Hoàn N c S - Điều tra viên, cơ quan cảnh sát điều tra Côn an hu ện Đ (Có mặt).

+ Ông Lò Văn L - Điều tra viên, cơ quan cảnh sát điều tra Côn an hu ện Đ (Có mặt).

+ Ôn N u n Mạnh C - Trưởn Côn an xã N, hu ện Đ, tỉnh Điện Biên (Có mặt).

+ Ôn Lườn Văn H, sinh năm 1947, địa chỉ: Đội 16, xã Th, hu ện Đ, tỉnh Điện Biên (Có mặt).

+ Ôn Bùi Minh S, sinh năm 1974, địa chỉ: Đội 3, thôn Th S, xã N, hu ện Đ, tỉnh Điện Biên (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 20 iờ n à 20/11/2019, khi Lê Văn G đan đi bộ ở khu vực đội 3, thôn Thanh Sơn, xã Noon Luốn , hu ện Điện Biên, tỉnh Điện Biên thì bị tổ côn tác côn an hu ện Điện Biên phối hợp với công an xã Noon Luốn phát hiện bắt quả tan và thu iữ tại túi áo n ực bên phải của G 01 gói bằn iấ trắn chứa 01 viên Methamphetamine có khối lượn 0,1 gam và thu tại túi quần bên trái 02 gói Heroine có tổn khối lượn 0,13 gam. Bị cáo khai nhận số ma tú trên do khoản 19 h cùn ngày bị cáo đi bộ đến đầu đườn thuộc đội 1, xã Noon Luốn mua của một n ười đàn ôn khôn biết tên, địa chỉ với iá 100.000 đ với mục đích để bản thân sử dụn . Khi bị bắt quả tan , Côn an còn thu iữ của bị cáo số tiền 230.000 đ nhưn khôn lập biên bản, số tiền nà đã được trả lại cho chị Lê Thị Th là chủ sở hữu số tiền trên.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi tàn trữ ma tú của mình, về khối lượn Methamphetamine bị thu iữ, về nhữn tình tiết có liên quan. Tuy nhiên còn có nhữn lời khai về khối lượn Heroine bị thu iữ khác nhau, mâu thuẫn và khôn thốn nhất, không chính xác. Bị cáo có thái độ ăn năn hối cải nhưn chưa thật sự sâu sắc.

Ý kiến của n ười có qu ền lợi, n hĩa vụ liên quan, chị Lê Thị Th: Sáng ngày 20/11/2019 chị Thủ có đưa cho bố đẻ của mình là bị cáo Lê Văn G số tiền 330.000 đ. Việc bị cáo lấ 100.000 đ từ số tiền đó đi mua ma tú chị Thủ khôn biết, mục đích chị đưa tiền cho bị cáo khôn phải để cho bị cáo mua ma tú sử dụn mà để mua đồ ăn cho con chị Th. Hiện chị Th đã được nhận lại số tiền còn lại là 230.000 đ và khôn có ý kiến và êu cầu ì.

Ý kiến của nhữn n ười tham ia tố tụn khác:

+ Ôn Lườn Văn H: Có tham ia chứn kiến việc mở niêm phon xác định khối lượn ma tú thu iữ của Lê Văn G, việc xác định khối lượn ma tú di n ra đún như biên bản thể hiện, khối lượn ma tú thu iữ của Lê Văn G khi cân là 0,13 gam Heroine và 0,1 gam Methamphetamine.

+ Ôn Lò Văn L: Việc tổ chức cân khác định khối lượn được thực hiện đún qui định, có đầ đủ các thành phần tham ia, phươn tiện sử dụn cân đảm bảo theo qui định, khối lượn ma tú khi cân đối với các cục bột trắn nghi Heroine là 0,13 gam và đối với viên nén màu hồn n hi ma tú tổn hợp là 0,1 gam.

+ Ôn Hoàn N c S: Là điều tra viên thụ lý chính điều tra vụ án, kể từ khi được phân côn đã thực hiện đún các qui định của pháp luật tron việc điều tra vụ án. Đối với khối lượn ma tú thu iữ của bị cáo G tại biên bản hỏi cun ngày 10/12/2019 và ngày 23/12/2019 điều tra viên đã hỏi bị cáo và bị cáo đều thừa nhận đã được tham ia mở niêm phon xác định khối lượn và khối lượn ma tú bị thu iữ đó là 0,13 gam Heroine và 0,1 gam Methamphetamine.

+ Ông Bùi Minh S: Bản thân là côn an viên của xã, là n ười chứn kiến việc bắt quả tan đối với Lê Văn G đồn thời cũn trực tiếp tham ia bắt đối tượn G, khi bắt iữ có thu iữ 230.000 đ của bị cáo nhưn đã trả lại cho n ười nhà bị cáo.

+ Ôn N u n Mạnh Cườn : Bản thân trực tiếp tham ia bắt quả tan đối với Lê Văn G, về số tiền 230.000 đ khi bắt có thu iữ của bị cáo nhưn đã ửi trả về cho con ái của bị cáo. Việc thu iữ và trả lại khôn lập biên bản, khi trả cũng chưa khẳn định được số tiền trên có liên quan đến việc phạm tội ha khôn .

Bản cáo trạn số: 13/CT-VKSĐB ngày 07/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân hu ện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tru tố bị cáo Lê Văn G về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tú " theo qu định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân hu ện Điện Biên, tỉnh Điện Biên vẫn iữ n u ên qu ết định tru tố và đề n hị Hội đồn xét xử: Áp dụn điểm i khoản 1 Điều 249; các điểm o, s khoản 1 Điều 51; Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn G với mức hình phạt từ 12 thán đến 15 thán tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tú . Khôn áp dụn hình phạt bổ sun đối với bị cáo. p dụn điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụn hình sự: Tịch thu tiêu hủ số ma tú thu iữ của Lê Văn G ồm: 0,13 gam Heroine, đã trích mẫu iám định 0,04 gam, còn lại 0,09 gam và 0,1 gam Methamphetamine, đã trích mẫu iám định hết; p dụn khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụn hình sự, điểm đ khoản 1 điều 12 N hị qu ết số 326/2016/UBTVQH14 n à 30/12/2016 qu định về mức thu, mi n, iảm, thu, nộp, quản lý và sử dụn án phí, lệ phí Tòa án mi n cho bị cáo tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Lời nói sau cùn của bị cáo: Bị cáo mong Hội đồn xét xử iảm mức hình phạt nhẹ nhất cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 20 iờ n à 20/11/2019, tại khu vực đội 3, thôn Thanh Sơn, xã Noon Luốn , hu ện Điện Biên, tỉnh Điện Biên Lê Văn G đã bị bắt quả tan khi đan tàn trữ trái phép chất ma tú 0,1 gam Methamphetamine và 0,13 gam Heroine với mục đích để sử dụn . Heroine và Methamphetamine đều là chất ma tú được qui định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự, theo qui định tại điều 4 n hị định số 19/2018/NĐ-CP n à 02/02/2018 của Chính Phủ qu định về việc tính tổn khối lượn hoặc thể tích chất ma tú tại một số điều của Bộ luật hình sự thì tổn khối lượn hai chất ma tú thu iữ của bị cáo là 0,23 gam tươn đươn khối lượn ma tú qui định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, hành vi tàn trữ 02 chất ma tú nêu trên của bị cáo đã phạm vào điểm i khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự. Hành vi của G đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc qu ền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tú . Bị cáo là n ười có đầ đủ năn lực chịu trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp.

Hành vi trên của bị cáo đã được chứn minh tại các biên bản: bắt n ười phạm tội quả tan ; niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm iữ; mở niêm phon xác định khối lượn lấ mẫu iám định và niêm phon vật chứng, tại kết luận iám định, các lời khai của bị cáo, các tài liệu, chứn cứ khác có tron hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa.

Như vậ , Hội đồn xét xử thấ đủ căn cứ xác định bị cáo Lê Văn G có tội, bị cáo đã phạm vào tội Tàn trữ trái phép chất ma tú theo qu định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự đún như cáo trạn của Viện kiểm sát nhân dân hu ện Điện Biên đã tru tố.

Về tính chất, mức độ n hiêm tr n của hành vi phạm tội; các tình tiết tăn nặn , iảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi trên của bị cáo là hành vi n u hiểm cho xã hội có tính chất nghiêm tr n , bởi nó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc qu ền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tú , làm ảnh hưởn đến trật tự, trị an và an toàn xã hội trên địa bàn. Bị cáo phạm tội xuất phát từ độn cơ n hiện chất ma tú , coi thườn pháp luật; Mục đích hành vi của bị cáo là nhằm thỏa mãn ham muốn cá nhân.

Tại phiên tòa bị cáo có một số lời khai chưa thốn nhất, chưa chính xác tuy nhiên về cơ bản đã thành khẩn khai báo và có ăn năn hối cải ở mức độ nhất định về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo là n ười trên 70 tuổi. Do vậ , Hội đồn xét xử xem xét cho bị cáo được hưởn tình tiết iảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm o, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo khôn có tình tiết tăn nặn trách nhiệm hình sự.

Bị cáo được áp dụn hai tình tiết iảm nhẹ nhưng do còn có vấn đề khai báo chưa chính xác, việc ăn năn hối cải của bị cáo chưa sâu sắc cho nên Hội đồn xét xử thấ rằn cần áp dụn cho bị cáo mức hình phạt tươn xứn mà khôn áp dụn cho bị cáo hưởn dưới mức thấp nhất của khun hình phạt. Mặt khác, bị cáo là đối tượn sử dụn trái phép chất ma tú , khôn có khả năn tự cải tạo, cần buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù thì mới khôn â n u hiểm cho xã hội, khôn ảnh hưởn xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Xét thấ , khôn đủ điều kiện cho bị cáo hưởn án treo mà cần phải cách l bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụn Giáo dục bị cáo trở thành côn dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, đủ sức răn đe đối với bị cáo. Do vậ , căn cứ vào tính chất mức độ n u hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăn nặn , iảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo; xét thấ mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân đề xuất áp dụn đối với bị cáo là có cơ sở nên Hội đồn xét xử chấp nhận.

Về hình phạt bổ sun : Theo qu định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị áp dụn hình phạt bổ sun là hình phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tu nhiên, theo các tài liệu, chứn cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấ bị cáo là đối tượn có thu nhập thấp, hoàn cảnh kinh tế khó khăn và khôn có tài sản ì có iá trị lớn tại địa phươn nơi sinh sốn . Do đó, Hội đồn xét xử khôn áp dụn hình phạt bổ sun đối với bị cáo.

Về vật chứn vụ án: Hội đồn xét xử thấ 0,13 gam Heroine và 0,1 gam Methamphetamine vật chứn thu iữ của bị cáo là chất cấm tàn trữ, lưu hành nên cần căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụn hình sự tịch thu tiêu hủ .

Đối với số tiền 230.000 đồn khi Công an bắt quả tan đã thu iữ của bị cáo và trả cho chủ sở hữu là chị Lê Thị Th, cơ quan điều tra đã khôn lập biên bản đưa vào hồ sơ vụ án. Số tiền nà khôn liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo và chị Lê Thị Th khôn có ý kiến, êu cầu ì về vấn đề nà . Nên Hội đồn xét xử khôn đề cập iải qu ết.

Về án phí: Hội đồn xét xử căn cứ qu định tại khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụn hình sự, điểm đ khoản 1 điều 12 N hị qu ết số 326/2016/ UBTVQH14 của Ủ ban thườn vụ Quốc hội khóa 14 n à 30/12/2016 qu định về mức thu, mi n, iảm, thu, nộp, quản lý và sử dụn án phí, lệ phí Tòa án mi n cho bị cáo tiền án phí hình sự sơ thẩm do bị cáo là n ười cao tuổi.

Về vấn đề có liên quan khác: Bị cáo khai mua ma tú của n ười đàn ôn khôn rõ tên, địa chỉ, cơ quan điều tra khôn có cơ sở điều tra làm rõ. Chị Lê Thị Th là n ười đã đưa tiền cho bị cáo nhưn khôn biết bị cáo sử dụn tiền đó để mua ma tú . Do vậ , Hội đồn xét xử khôn đề cập xử lý đối với nhữn n ười này.

Về tính hợp pháp của các hành vi, qu ết định tố tụn : Các hành vi, qu ết định tố tụn của Điều tra viên Cơ quan điều tra Côn an hu ện Điện Biên; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân hu ện Điện Biên tron quá trình điều tra, tru tố cơ bản đã được thực hiện đún về thẩm qu ền, trình tự, thủ tục qu định của Bộ luật tố tụn hình sự, cho nên hầu hết các hành vi, qu ết định tố tụn của nhữn n ười nà đều đảm bảo tính hợp pháp. Tuy nhiên, khi lập biên bản bắt quả tan đối với bị cáo, Điều tra viên đã khôn phản ánh nội dun thu iữ và trả lại số tiền 230.000 đ thu của bị cáo, sử dụn n ười tham ia bắt bị cáo làm n ười chứn kiến là chưa đảm bảo các qui định tại khoản 2 điều 67, các điều 105, 106 Bộ luật tố tụn hình sự, cần rút kinh n hiệm và khắc phục tron côn tác điều tra.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249, các điểm o, s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 điều 136, các khoản 1, 4 điều 331, khoản 1 điều 333 Bộ luật tố tụn hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 điều 12 N hị qu ết số 326/2016/UBTVQH14 n à 30/12/2016 của Uỷ ban thườn vụ Quốc hội khoá 14 qu định về mức thu, mi n, iảm, thu, nộp, quản lý và sử dụn án phí, lệ phí Tòa án; điều 4 n hị định số 19/2018/NĐ-CP n à 02/02/2018 của Chính Phủ qu định về việc tính tổn khối lượn hoặc thể tích chất ma tú tại một số điều của Bộ luật hình sự

1. Về tội danh: Tu ên bố bị cáo Lê Văn G phạm tội "Tàn trữ trái phép chất ma tú ".

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Văn G 13 (mười ba) tháng tù. Khấu trừ cho bị cáo 03 n à bị tạm iữ, bị cáo còn phải thi hành 12 (mười hai) tháng 27 (hai mươi bẩ ) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ n à bị cáo có mặt tại trụ sở cơ quan thi hành án hình sự để thi hành hoặc n à bị áp iải thi hành án.

Khôn áp dụn hình phạt bổ sun đối với bị cáo.

3. Về vật chứn vụ án: Tịch thu tiêu hủ 0,13 gam Heroine, đã trích mẫu iám định 0,04 am, còn lại 0,09 gam và 0,1 gam Methamphetamine, đã trích mẫu iám định hết 0,1 gam thu iữ của Lê Văn G; (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/01/2020 gi a Công an huyện Điện Biên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên).

4. Về án phí: Mi n cho bị cáo tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về qu ền khán cáo: Bị cáo có qu ền khán cáo bản án tron thời hạn 15 ngày, n ười có qu ền lợi, n hĩa vụ liên quan được khán cáo phần bản án hoặc qu ết định có liên quan đến qu ền lợi, n hĩa vụ của mình tron thời hạn 15 n à kể từ n à tu ên án (10/3/2020).

Cỡ chữ