vanban.org

Bản án 37/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 10/03/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/03/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Đức H. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 554/HS-ST ngày 23/10/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.

Tuyên bố: Bị cáo Phan Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. ̀ tính từ ngày 19/5/2019. Được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 02/5/2019 đến ngày 11/5/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Đức H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Đức H. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 554/HS-ST ngày 23/10/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 347 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2020/HS-PT
Ngày: 10/3/2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nhài

Các Thẩm phán: Ông Trần Khánh Hồng

Ông Đặng Minh Tuân

- Thư ký phiên tòa: Bà Diệp Thu Trang- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2020, Tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số167/2019/TLPT-HS ngày03/12/2019, do có kháng cáo của bị cáo Phan Đức H đối với bản án Hình sự sơ thẩm số 554/2019/HS-ST ngày 23/10/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.

* Bị cáo kháng cáo:

Phan Đức H (tên gọi khác: Không), sinh năm 1972 tại Thái Nguyên; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ 28, phường PĐP, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không: Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Con ông Phan Viết T (đã chết) và con bà Trịnh Thị T1 (đã chết); Bị cáo có vợ Trần Thị N, sinh năm 1974 (đã ly hôn); Có 02 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2001; Tiền án, tiềnsự: Không; Nhân thân: Tại bản án số 49/HSST ngày 17/3/1997 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 09 tháng tù giam về tội Cố ý gây thương tích. Tại Quyết định số 2773/QĐ-CT ngày 20/9/2007 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Thái Nguyên về việc áp dụng biện pháp đưa Phan Đức H vào Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động - Xã hội thành phố Thái Nguyên thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 04/02/2010.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/5/2019 cho đến nay.Trước đó bị tạm giữ từ ngày 02/5/2019 đến ngày 11/5/2019.(Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 02/5/2019, tổ công tác Công an phường Phan Đình Phùng, thành phố Thái Nguyên làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 30 của phường phát hiện 01 người đàn ông có biểu hiện liên quan đến ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, người đàn ông khai tên Phan Đức H và thừa nhận đang cất giấu ma túy trong người. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện thu giữ tại túi quần phía sau bên trái H đang mặc có 01 gói giấy bạc màu trắng và 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong cả hai gói đều chứa chất bột màu trắng (H khai chất bột màu trắng là Heroine) mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong thu giữ vật chứng theo quy định.

Cùng ngày tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng: Số chất bột màu trắng trong gói giấy bạc màu trắng và gói giấy bạc màu vàng thu giữ của H có khối lượng 0,280 gam và lấy toàn bộ cho vào bì niêm phong ký hiệu H gửi giám định.

Tại kết luận giám định số 2320/C09 –TT2 ngày 11/5/2019 của Viện kỹ thuật hình sự Bộ Công an kết luận: Chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu H gửi giám định là ma túy, loại Heroine.

Tại bản kết luận giám định số 856/KL-KTHS ngày 06/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ ban đầu của Phan Đức H có khối lượng là 0,280 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Phan Đức H khai nhận: Khoảng 14 giờ ngày 01/5/2019, H mua 01 gói ma túy loại Heroine được gói bằng giấy bạc màu vàng của 01 người đàn ông không rõ lai lịch tại khu vực phía sau trung tâm Methadol thành phố TN với giá 200.000đ. Sau đó H dùng một phân. Khoảng 08 giờ ngày 02/5/2019 H cầm theo phần ma túy còn lại để trong túi quần phía sau bên trái và đi bộ từ nhà đến trung tâm Methadol thành phố TN để uống Methadol. Sau khi uống xong, H đi ra khu vực phía sau Trung tâm gặp và lại mua của một người đàn ông (H mua của người đàn ông hôm trước) 01 gói Heroine được gói bằng giấy bạc màu trắng với giá 400.000đ. Mua xong, H cất gói Heroine vào túi quần phía sau bên trái và đi về nhà. Khi đi đến tổ 30, phường PĐP thì bị phát hiện kiểm tra và lập biên bản.

Vật chứng của vụ án:01 bì niêm phong dán kín số 2320/C09 (T22) bên trong chứa 0,175 gam Heroine (mẫu hoàn lại sau giám định).

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 554 ngày 23/10/2019 Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, quyết định tuyên bố: Bị cáo Phan Đức H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 BLHS. Xử phạt: Bị cáo Phan Đức H 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/5/2019. Được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 02/5/2019 đến ngày 11/5/2019. Không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Ngoài ra bản án còn Quyết định xử lý vật chứng, ấn định trách nhiệm chịu án phí và thông báo quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 04/11/2019 bị cáo Phan Đức H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Trong qúa trình xét xử phúc thẩm bị cáo cung cấp 01 Giấy chứng nhận xóa án tích số 06/2012/GCN-CA ngày 10/10/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên và 01 giấy xác nhận số 355/XN-THA ngày 03/8/2012 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên và cho rằng bị cáo đã chấp hành xong án phí và khoản tiền bồi thường theo quyết định của bản án số 49/HSST ngày 17/3/1997 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét Bản án số 49/HSST ngày 17/3/1997 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, bị cáo đa chấp hành xong hình phạt tù, án phí và trách̃ nhiệm dân sự đa được Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xóa án tích vàõ năm 2012, như vậy bị cáo không có tiền án, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Phần kết luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tóm tắt nội dung vụ án, phân tích đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo. Đối với Bản án số 49/HSST ngày 17/3/1997 của Tòa án nhân dân thành ph ố Thái Nguyên xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích, buộc bị cáo bồi thường cho người bị hại là 2.443.000 đồng, thì tại phiên tòa phúc thẩm ngày 23/12/2019 bị cáo giao nộp cho Tòa án 01 Giấy chứng nhận xóa án tích số 06/2012/GCN-CA ngày 10/10/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên và Giấy xác nhận số 355/XN-THA ngày 03/8/2012 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên và cho rằng bị cáo đã chấp hành xong án phí và khoản tiền bồi thường theo quyết định của bản án số 49/HSST ngày 17/3/1997 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, do đó Hội đồng xét xử đã căn cứ vào Điều 353 Bộ luật tố tụng hình sự yêu cầu Viện kiểm sát thu thập bổ sung chứng cứ, xem xét về tiền án của bị cáo. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đa phối hợp với cỡ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên tiến hành thu thậptài liệu, tiến hành lấy lời của người bị hại, thể hiện bị cáo Phan Đức H đa bồi thường xong cho ngườĩ bị hại số tiền 2.443.000 đồng theo quyết định của bản án số 49/HSST ngày 17/3/1997 vào năm 2010. Như vậy, tính đến thời điểm phạm tội này bị cáo đa được̃ xóaán tích. Bản án sơ thẩm xác định bị cáo có một tiền án và phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là không đúng. Đề nghị Hội đồng xét xửáp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 554/2019/HSST ngày 23/10/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, giảm một phần hình phạt cho bị cáo, phạt bị cáo 24 tháng tù.

Bị cáo không tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đơn kháng cáo của bị cáo Phan Đức H làm trong hạn luật định được đưa ra xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản án sơ thẩm đã mô tả: Hồi 09 giờ 30 phút ngày 02/5/2019, tại tổ 30, phường PĐP, thành phố TN, bị cáo Phan Đức H có hành vi tàng trữ 0,280 gam Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Với hành vi trên, Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên đã xét xử bị cáo Phan Đức H về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo Phan Đức H, Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 49/HSST ngày 17/3/1997 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt bị cáo 09 tháng tù giam về tội “Cố ý gây thương tích”; buộc bị cáo bồi thường cho người bị hại 2.443.000 đồng và phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 50.000 đồng, án phí dân sự 80.000 đồng. Cấp sơ thẩm xác đi ̣nh bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/10/1997, thi hành xong án phí ngày 01/6/2015, chưa thi hành khoản bồi thường cho người bị hại. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm ngày 23/12/2019 bị cáo cung cấp cho Tòa án 01 Giấy chứng nhận xóa án tích số 06/2012/GCN-CA ngày 10/10/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên và 01 Giấy xác nhận số 355/XN-THA ngày 03/8/2012 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên và cho rằng bị cáo đã chấp hành xong án phí và khoản tiền bồi thường theo quyết định của bản án số 49/HSST ngày 17/3/1997 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, nên Hội đồng xét xử đã căn cứ vào Điều 353 Bộ luật tố tụng hình sự yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên thu thập bổ sung chứng cứ về phần bồi thường của bản án nói trên để xem xét tiền án của bị cáo. Sau khi xác minh, thu thập tài liệu thể hiện bị cáo Phan Đức H đa tự nguyện bồi thường xong cho người bị hại theo quyết định của bản áñ số 49/HSST ngày 17/3/1997 vào năm 2010. Như vậy, tính đến thời điểm phạm tội này bị cáo đa được xóa án tích. Cấp sơ thẩm xác định bị cáo có một tiền án và phảĩ chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là không đúng. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Mức hình phạt cấp sơ thẩm quyết đi ̣nh đối với bị cáo có phần nghiêm khắc nên chấp nhận kháng cáo của bị cáo giảm một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên toà hôm nay là có căn cứ. Hội đồng xét xử chấp nhận.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Đức H. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 554/HS-ST ngày 23/10/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.

Tuyên bố: Bị cáo Phan Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự, xử phạt bị cáo Phan Đức H 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù

̀ tính từ ngày 19/5/2019. Được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 02/5/2019 đến ngày 11/5/2019.

Căn cứ Điều 347 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định tạm giam bị cáo trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH về án phi . Bị cáo Phan Đức H không phải chịuán phí hình sự

́ phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ