vanban.org

Bản án 37/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 09/12/2020 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

37; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 238; điểm a khoản 5 Điều 477; khoản 1 Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị Thanh H đối với ông Ngô Lê H1 (Ngo Le H1). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Thanh H-Ngô Lê H1"
  • Tòa quyết gì? 37; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 238; điểm a khoản 5 Điều 477; khoản 1 Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2020/HNGĐ-ST
Ngày 09-12-2020
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Nhạc

Ông Trương Vĩnh Kỳ

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Xuân Vi là Thư ký của Tòa án nhân

dân tỉnh Bình Thuận

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên

tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương – Kiểm sát viên

Ngày 09 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình

Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 52/2020/TLST-HNGĐ ngày

20 tháng 10 năm 2020, về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ

án ra xét xử số 14/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2020 và

Thông báo số 12/TB-TA ngày 30 tháng 11 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thanh H, sinh năm 1994

Địa chỉ cư trú: khu phố PH, thị trấn PRC, huyện TP, tỉnh BT, Việt Nam.

- Bị đơn: Ông Ngô Lê H1 (Ngo Le H1), sinh năm 1990; Quốc tịch:

Canada.

Địa chỉ cư trú: số 3…, V St, V B.C, V5K 2S5, Canada.

Bà Phạm Thị Thanh H và ông Ngô Lê H1 (Ngo Le H1) có đơn đề nghị

xét xử vắng mặt; Ông Ngô Lê H1 ủy quyền cho bà Phạm Thị Thanh H nhận

các văn bản tố tụng trong vụ án (Theo văn bản ủy quyền được Tổng Lãnh sự

quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Vancouver - Canada

chứng thực ngày 13/10/2020).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn – bà Phạm Thị Thanh H trình bày:

1. Về hôn nhân: Bà và ông Ngô Lê H1 sống với nhau và đăng ký kết

hôn tại Ủy ban nhân dân huyện TP, tỉnh BT vào ngày 20/6/2016. Sau khi kết hôn, vợ chồng cùng tổ chức lễ cưới và về sống chung tại xã HP, huyện TP (nay là thị trấn PRC, huyện TP). Quá trình sống chung, do tính tình hai bên không hợp, nên phát sinh nhiều mâu thuẫn trong các vấn đề sinh hoạt hàng ngày. Đến cuối năm 2016 thì ông Ngô Lê H1 về Canada sinh sống, từ đó đến nay vợ chồng không còn liên lạc, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Vì vậy, xét thấy mối quan hệ vợ chồng không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Ngô Lê H1.

2. Về con chung và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải

quyết.

3. Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải

quyết.

Tại văn bản trình bày ý kiến về việc ly hôn được Tổng Lãnh sự quán

nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Vancouver - Canada chứng thực ngày 23/7/2020, bị đơn – ông Ngô Lê H1 trình bày:

Ông và bà Phạm Thị Thanh H sống với nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy

ban nhân dân huyện TP, tỉnh BT vào ngày 20/6/2016. Sau khi đăng ký kết hôn, vợ chồng cùng tổ chức lễ cưới và sống chung tại xã HP, huyện TP (nay là thị trấn PRC, huyện TP). Quá trình chung sống, ông và bà Phạm Thị Thanh H thường phát sinh mâu thuẫn, cãi nhau, nguyên nhân là do tính tình không hợp, không thống nhất được với nhau về các vấn đề sinh hoạt hàng ngày trong gia đình. Do mâu thuẫn nên từ cuối năm 2016, ông bỏ về Canada sinh sống đến nay, hai bên không còn quan tâm gì đến cuộc sống của nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn để vợ chồng chung sống hạnh phúc được, nên ông đồng ý với yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị Thanh H. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết như ý kiến của bà H,

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận

phát biểu quan điểm:

- Về thủ tục tố tụng:

1. Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng các quy

định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

2. Các đương sự: Bà Phạm Thị Thanh H và ông Ngô Lê H1 có đơn đề

nghị không tiến hành hòa giải và đề nghị giải quyết vụ án vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải và tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 238, điểm a khoản 5 Điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều

53, Điều 56, khoản 2 Điều 123, khoản 1 Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia

đình; Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị Thanh H

đối với ông Ngô Lê H1.

2. Về án phí: Bà Phạm Thị Thanh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm

theo khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

3. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Do các đương sự không

yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra,

xem xét tại phiên tòa, căn cứ ý kiến trình bày của các đương sự và đề nghị của

Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, bà Phạm Thị Thanh

H và ông Ngô Lê H1 có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải và đề nghị giải

quyết vụ án vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải và tiến hành xét xử

vụ án vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 238, điểm a

khoản 5 Điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Thanh H và ông Ngô Lê H1 kết

hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện TP

vào ngày 20/6/2016. Theo quy định tại Điều 9, Điều 11 của Luật Hôn nhân và

Gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp.

Tuy nhiên, sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung được một thời

gian ngắn thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân theo các bên đương sự

là do vợ chồng tính tình không hợp, không thống nhất được với nhau về các

vấn đề sinh hoạt hàng ngày trong gia đình và đến cuối năm 2016 thì ông Ngô

Lê H1 về lại Canada sinh sống. Từ đó đến nay, vợ chồng không còn quan tâm

gì đến cuộc sống của nhau. Nay bà Phạm Thị Thanh H yêu cầu ly hôn, ông

Ngô Lê H1 đồng ý. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy quan hệ hôn nhân giữa

hai bên không thể hàn gắn, đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể kéo

dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào Điều 19, Điều 51,

khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà

Phạm Thị Thanh H như ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Phạm Thị Thanh H và

ông Ngô Lê H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không

xem xét giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về án phí: Bà Phạm Thị Thanh H là nguyên đơn nên phải chịu án

phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng

dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: - Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều

37; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 238; điểm a khoản 5 Điều 477; khoản 1 Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 19, Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 123;

khoản 1 Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị Thanh H

đối với ông Ngô Lê H1 (Ngo Le H1).

2. Về án phí: Bà Phạm Thị Thanh H phải chịu 300.000đồng (Ba trăm

nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008913 ngày 14/10/2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận. Bà Phạm Thị Thanh H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa, được

quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật; Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ