- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân:
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2020/HNGĐ-ST Ngày: 22-7-2020 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy An
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Văn Đém
2/ Bà Nguyễn Thị Thơm
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Hoàng Minh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tú – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 102/2020/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 3 năm 2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Kim Ng, sinh năm 1987. (có mặt)
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Chu S, sinh năm 1989. (vắng mặt)
Cùng địa chỉ cư trú: ấp K, xã L, huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long.
3. Người làm chứng: Bà Đoàn Thị Ngọc Linh, sinh năm 1958. (vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: ấp K, xã L, huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 10/3/2020, nguyên đơn chị Lê Kim Ng trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Chu S thành hôn vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long, thời gian chung sống được 05 năm. Trong thời gian sống chung vợ chồng sống không hạnh phúc. Hiện vợ chồng đã sống ly thân do có nhiều mâu thuẫn trong gia đình. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh S.
- Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Quốc H, sinh ngày 13/12/2014 hiện đang sống chung với anh S, chị giao con chung cho anh S tiếp tục nuôi dưỡng, chị không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Tại đơn khởi kiện bổ sung ngày 11/5/2020, nguyên đơn chị Lê Kim Ng trình bày: Hiện tại anh S không còn nuôi con, nên chị yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.
Tại biên bản lấy lời khai của người làm chứng ngày 10/6/2020, người làm chứng bà Đoàn Ngọc L trình bày: Vào năm 2014 bà có tổ chức lễ cưới cho anh S với chị Ng và vợ chồng ang S có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long. Sau khi thành hôn thì vợ chồng anh S sống chung với gia đình bà được khoảng 01 năm. Đến năm 2015 thì vợ chồng anh S đi làm thuê ở Thành phố Hồ Chí Minh. Mâu thuẫn chủ yếu của vợ chồng anh S là do anh S sử dụng ma túy, không lo cho gia đình vợ con. Về con chung có 01 con chung tên Nguyễn Quốc H, sinh ngày 13/12/2014 hiện đang sống chung với chị Ng. Sự việc chị Ng làm đơn khởi kiện ly hôn với anh S thì anh S đã biết và không cho bà nhận tất cả các văn bản tố tụng của Tòa án mà để anh tự giải quyết với chị Ng.
Tại phiên tòa, chị Ng xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu ly hôn với anh S vì anh S nghiện ngập ma túy, không còn quan tâm lo lắng cho vợ con. Về con chung hiện đang sống chung với chị, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của Viện kiểm sát:
- Về trình tự, thủ tục tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng thể hiện trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa hoàn toàn đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng không có ý kiến về nội dung mà nguyên đơn khởi kiện, không tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án, không thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với người làm chứng có ý kiến trình bày xin vắng mặt tại phiên tòa, đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về quan hệ hôn nhân chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Kim Ng, xử cho chị Ng ly hôn với anh Nguyễn Chu S. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Quốc H, sinh ngày 13/12/2014 cho chị Lê Kim Ng trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Chu S không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về quan hệ tài sản: Chị Ng không yêu cầu nên đề nghị không xem xét giải quyết. Về án phí sơ thẩm: Chị Ng phải nộp theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cụ thể chị Ng phải nộp 300.000đ án phí ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền, quan hệ tranh chấp: Căn cứ đơn khởi kiện của chị Lê Kim Ng yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Chu S cư trú tại ấp K, xã L, huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án có quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long.
Bị đơn anh Nguyễn Chu S được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng bị đơn vẫn vắng mặt lần thứ 2 không lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
Người làm chứng bà Đoàn Thị Ngọc L vắng mặt tại phiên tòa nhưng bà L đã có lời khai trực tiếp với Tòa án và xin vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào khoản 2 Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt người làm chứng.
Về nội dung:
Về hôn nhân:
Chị Lê Kim Ng và anh Nguyễn Chu S thành hôn có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã L, huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long cấp giấy chứng nhận kết hôn số 59 vào ngày 25/7/2014 nên xem quan hệ hôn nhân giữa chị Ng và anh S là hợp pháp.
Xét trong quá trình chung sống vợ chồng giữa chị Ng và anh S không có hạnh phúc, thường phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, sống không hợp nhau do anh S nghiện ngập ma túy, không lo cho gia đình vợ con và vợ chồng đã ly thân 02 năm nay không ai tới lui thăm nom giúp đỡ gì như lời trình bày của chị Ng cũng như lời trình bày của bà L là mẹ ruột của anh S và sau khi Tòa án thụ lý đã ra giấy triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để Toà án hoà giải giúp đở đoàn tụ nhưng anh S vẫn vắng mặt không lý do. Như vậy cho thấy tình cảm giữa chị Ng và anh S không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên xét yêu cầu ly hôn của chị Ng là có cơ sở phù hợp Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Xét con chung tên Nguyễn Quốc H, sinh ngày 13/12/2014 hiện đang sống trực tiếp với chị Ng, cuộc sống cũng đảm bảo. Chị Ng yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con. Anh S không có ý kiến gì về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Nên Hội đồng xét xử xét giao con chung cho chị Ng trực tiếp nuôi dưỡng, anh S không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh S có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở là phù hợp các Điều 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lê Kim Ng không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Kim Ng phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp theo quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và khoản 2 Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Lê Kim Ng. Xử cho chị Ng ly hôn với anh Nguyễn Chu S.
2. Về con chung:
Giao con chung tên Nguyễn Quốc H, sinh ngày 13/12/2014 cho chị Lê Kim Ng trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Chu S không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung:
Chị Lê Kim Ng không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc chị Lê Kim Ng phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn. Khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) chị Ng đã nộp theo biên lai thu số 0016012 ngày 10/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long. Chị Ng đã nộp đủ tiền án phí.
5. Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nôi nhaän: - TAND tænh Vĩnh Long; - VKSND huyeän Tr; - THADS huyeän Tr; - UBND xã L, huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long (Giấy chứng nhận kết hôn số 59 ngày 25/7/2014); - Caùc ñöông söï; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Thúy An |