- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình"
- Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! HỆN!LỤC!NGẠN! TỈNH!BẮC!GIANG! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:!37/2020/HNGĐ-ST Ngày: 14/7/2020 V/v: “ Tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!HỆN!LỤC!NGẠN!
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Văn Thể.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Đăng Thanh.
2. Bà Vũ Thị Mai!
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ca!-!Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên toà: Ông Vương Văn Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 11/2020/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2020 về việc: “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hà Thị H - Sinh năm 1989 (có mặt)
Trú quán: Thôn K– PS– LNg– BG.
Bị đơn: Tống Công H – Sinh năm 1984 (vắng mặt)
Trú quán: Thôn K– PS– LNg– BG.
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/12/2019, bản tự khai của nguyên đơn chị Hà Thị H và trong quá trình xét xử thì nội dung vụ án như sau:
Chị Hà Thị H kết hôn với anh Tống Công H vào tháng 01/2011. Trước khi kết hôn, chị và anh H có được tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn. Anh chị có đến Uỷ ban nhân dân xã PS– LNg– BG đăng ký kết hôn. Sau ngày cưới, anh chị về chung sống với nhau ngay tại thôn K- PS– LNg– BG. Cuộc sống vợ
1
chồng ban đầu hạnh phúc được khoảng 3 năm sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, không bảo ban được nhau trong việc làm kinh tế khiến tình cảm rạn nứt. Anh H không quan tâm tới gia đình, tình trạng trên kéo dài từ đó đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng với anh H không còn, chị làm đơn khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Tống Công H.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Tống Gia H, sinh ngày 15/5/2013. Vợ chồng ly hôn chị có nguyện vọng nuôi cháu H, chị không đề nghị anh H cấp dưỡng, không đề nghị Toà án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản, công nợ chung: Anh chị không có tài sản, công nợ chung, chị không đề nghị Toà án giải quyết.
Bị đơn anh Tống Công H vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do. Đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, giao nộp công khai chứng cứ và hòa giải. Kết quả phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ. Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh H không cung cấp văn bản ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của chị Hcũng không tham dự phiên họp, phiên hòa giải nên Tòa án không thu thập được lời khai, ý kiến của anh H về yêu cầu của chị Hến.
Tại biên bản xác minh ngày 18/2/2020 ông Nguyễn Văn Vượng – Cán bộ Tư pháp xã, ông Thân Văn H – Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã PScung cấp: Hiện anh H không có mặt tại địa phương, anh H đi đâu, làm gì địa phương không biết, anh H cũng không khai báo tạm vắng, cũng không cHển khẩu đi nơi khác.
Tại phiên tòa chị Hà Thị H vẫn giữa nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Tống Công H. Về con chung: Chị có nguyện vọng nuôi con chung là Tống Gia H, sinh ngày 15/5/2013, chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, không đề nghị Toà án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản, công nợ chung chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án và của các đương sự. Thẩm phán, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy
2
định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ các Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị H: Cho chị Hà Thị H được ly hôn với anh Tống Công H.
Về con chung: Giao cho chị Hà Thị H nuôi con chung là Tống Gia H, sinh ngày 15/5/2013, cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét, vì các đương sự không yêu cầu. Sau khi ly hôn anh H được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh H thực hiện quyền này.
Về án phí: Chị Hà Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án theo biên lai thu số: AA/2018/0001110 ngày 06/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Hện Lục Ngạn.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!!
!
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Hà Thị H khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết ly hôn với anh Tống Công H. Đây là quan hệ tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Anh Tống Công H được triệu tập hợp lệ nhưng tại phiên toà vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử xét thấy nguyên đơn đã ghi đúng, đầy đủ địa chỉ của bị đơn. Qua xác nhận chính quyền địa phương, hiện nay anh H đi đâu làm gì địa phương không được biết. Anh H cũng không cung cấp địa chỉ, nơi ở, nơi làm việc hiện nay cho chị H biết. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
3
nhân dân tối cao, khoản 3 Điều 39, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự được xem là anh H cố tình giấu giếm địa chỉ. Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung và xét xử vắng mặt anh H.
[2] Xét yêu cầu khởi kiên của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy: Về quan hệ hôn nhân: Chị H, anh H tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau vào năm 2011 có đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã PS– LNg– BG. Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, đến nay không ai còn quan tâm tới ai. Vợ chồng đã sống ly thân với nhau một thời gian dài (từ năm 2014 cho đến nay), điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị Hến, anh H có mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của chị Hđối với anh H: Cho chị H được ly hôn với anh H.
[3] Về con chung: Chị Hến, anh H có 01 con chung là Tống Gia H, sinh ngày 15/5/2013, hiện đang ở với chị H, ly hôn chị Hcó nguyện vọng xin được nuôi con, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay anh H không rõ địa chỉ ở đâu, chị H là người trực tiếp trông nom chăm sóc cháu H, cháu H lại có nguyên vọng xin ở với chị Hến. Do vậy cần giao cháu H cho chị Hnuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật. Chị H không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[4] Về tài sản chung, công nợ chung: Chị H xác định vợ chồng không có tài sản, công nợ chung, không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Chị Hà Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
* Vì các lẽ trên.!!!!!!!!!!!!!!!!!!!
QUYẾT!ĐỊNH:!
!
Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ các Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị H: Cho chị Hà Thị H được ly hôn với anh Tống Công H.
4
Về con chung: Giao cho chị Hà Thị H nuôi con chung là Tống Gia H, sinh ngày 15/5/2013, cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét, vì các đương sự không yêu cầu. Sau khi ly hôn anh H được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh H thực hiện quyền này.
Về án phí: Chị Hà Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án theo biên lai thu số: AA/2018/0001110 ngày 06/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Toà án ND tỉnh BG - Viện kiểm ND tỉnh BG; - Viện kiểm sát ND huyện Lục Ngạn; - Nguyên đơn, bị đơn; - Chi cục THA huyện Lục Ngạn. - UBND xã Phượng Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh BG; - Lưu HS. 5 | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM! THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TOÀ! ! Phan!Văn!Thể |