vanban.org

Bản án 37/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Nguyễn Thị Hồng P được ly hôn với Trần Thanh S.

Về con chung và cấp dưỡng: Trần Thanh S được quyền tiếp tục nuôi con là Trần Thị Ngọc N, sinh ngày: 23/3/2004. Trần Thanh S hông yêu cầu Nguyễn Thị Hồng P cấp dưỡng nuôi con. Trần Thanh S cùng các thành viên trong gia đình hông được cản trở

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Nguyễn Thị Hồng P được ly hôn với Trần Thanh S.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LAI VUNG
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 06-8-2020
V/v Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con và cấp dưỡng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Út.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đặng Văn Hai;

Ông Nguyễn Phát Triển.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trung Vinh - Thư Toà án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 06 tháng 8 năm 2020 tại phòng xử án của trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công hai vụ án thụ l số: 203/2020/TLST-HNGĐ, ngày 15/6/2020, “V/v ly hôn và tranh chấp nuôi con và cấp dưỡng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2020/QĐXXST-HNGĐ, ngày 22 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:

- N đơn: Nguyễn Thị Hồng P - sinh năm: 1986 (có mặt); Địa chỉ: 1139/TL,

ấp T P, xã T T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

Tạm trú: 239/1, ấp T M, xã T H, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Trần Thanh S - sinh năm: 1980 (có mặt); Địa chỉ: 1139/TL, ấp T L, xã T T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn hởi iện ngày 21/5/2020, tại lần hòa giải ngày 17/7/2020 và tại phiên tòa N đơn Nguyễn Thị Hồng P trình ày:

Vào năm 2000, Nguyễn Thị Hồng P và Trần Thanh S quen nhau và sống chung như vợ chồng, đến ngày 12/12/2002 đăng

ết hôn ngày tại UBND xã T T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp; quá trình sống chung vợ chồng có Nều mâu thuẩn, do vợ chồng ất đồng quan điểm thường hay cải vả, vợ chồng ly thân hoảng 01 năm nay, anh S không lo lắng gì cho gia đình, anh S ham chơi cờ ạc, chị P huyên can Nều lần nhưng anh S vẫn hông từ ỏ, đất đai tài sản anh S đã án hết; chị P yêu cầu được ly hôn với Trần Thanh S. Về con chung vợ chồng có 02 con chung là Trần Thanh N, sinh ngày: 04/2/2002 và Trần Thị Ngọc N, sinh ngày: 23/3/2004, hiện nay Trần Thị Ngọc N đang sống với anh S chị Nguyễn Thị Hồng P đồng giao con là Trần Thị Ngọc N cho Trần Thanh S nuôi dưỡng và Nguyễn Thị Hồng P hông cấp dưỡng nuôi con, Trần Thanh N đã trưởng thành Nguyễn Thị Hồng P hông yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung Nguyễn Thị Hồng P hông yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung hông có nợ chung, hông yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại lần hòa giải ngày 17/7/2020 và tại phiên tòa ị đơn Trần Thanh S trình ày:

Theo lời trình ày của Nguyễn Thị Hồng P là đúng, năm 2000 Trần Thanh S và Nguyễn Thị Hồng P quen nhau, sống chung như vợ chồng, có đăng

ết hôn tại UBND xã Tân Thành, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. Trong quá trình sống chung vợ chồng có mâu thuẫn đúng như chị Nguyễn Thị Hồng P trình ày, anh S cũng hứa sửa đổi để chị P quay về sống chung nhưng chị P hông về và vợ chồng đã ly thân hoảng 01 năm nay, anh S còn thương vợ nên yêu cầu được đoàn tụ, hông đồng ly hôn. Về con chung có 02 con chung đúng như chị P trình ày, Trần Thanh S đồng nuôi Trần Thị Ngọc N và hông yêu cầu Nguyễn Thị Hồng P cấp dưỡng nuôi con, Trần Thanh N đã trưởng thành Trần Thanh S hông yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung Trần Thanh S hông yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung hông có nợ chung, hông yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau hi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào ết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hôn nhân: Nguyễn Thị Hồng P và Trần Thanh S sống chung với nhau như vợ chồng và có đăng

ết hôn theo quy định, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật ảo vệ. Trong quá trình sống chung có Nều mâu thuẫn, N nhân là do ất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cải nhau, anh S hông lo gì cho gia đình, thường hay cờ ạc, chị P đã huyên can Nều lần nhưng anh S vẫn hông từ ỏ. Vợ chồng đã ly thân hoảng 01 năm nay, hông ai quan tâm đến ai, nên tình cảm vợ chồng hông còn. Mặc dù, Tòa án đã iên trì hòa giải nhưng Nguyễn Thị Hồng P vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn với Trần Thanh S, hôn nhân mâu thuẫn là trầm trọng, đời sống chung hông thể éo dài, mục đích hôn nhân hông thể đạt được, cho nên việc Nguyễn Thị Hồng P yêu cầu ly hôn là thỏa mãn các điều iện theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, vì vậy Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của Nguyễn Thị Hồng P là có căn cứ.

[2] Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Trần Thanh N, sinh ngày: 04/2/2002 và Trần Thị Ngọc N, sinh ngày: 23/3/2004, Nguyễn Thị Hồng P đồng giao Trần Thị Ngọc N cho Trần Thanh S nuôi dưỡng, Trần Thanh N đã trưởng thành chị P và anh S hông yêu cầu Tòa án giải quyết nên hông xem xét; còn Trần Thị Ngọc N thì việc giao con cho ai nuôi phải đảm ảo quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, phải đảm ảo đầy đủ điều iện để nuôi con, đảm ảo các điều iện nuôi con tốt, mặc dù Trần Thị Ngọc N có tờ tường trình là muốn sống với chị P, nhưng hiện tại thì Trần Thị Ngọc N đang sống với anh S, anh S nuôi dạy và chăm sóc con tốt trong thời gian qua, Hội đồng xét xử xem xét tiếp tục giao Trần Thị Ngọc N cho Trần Thanh S nuôi dưỡng là phù hợp theo Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về cấp dưỡng: Nguyễn Thị Hồng P hông trực tiếp nuôi con đáng l ra phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình, nhưng Trần Thanh S hông yêu cầu Nguyễn Thị Hồng P cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử hông đặt thành vấn đề xem xét, giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Nguyễn Thị Hồng P và Trần Thanh S hông yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử hông xem xét.

[5] Về nợ chung: Nguyễn Thị Hồng P và Trần Thanh S cho rằng hông có nợ chung, hông yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử hông xem xét.

[6] Về án phí: N đơn Nguyễn Thị Hồng P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là có căn cứ, phù hợp với hoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a hoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình; hoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a hoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Nguyễn Thị Hồng P được ly hôn với Trần Thanh S.

2. Về con chung và cấp dưỡng: Trần Thanh S được quyền tiếp tục nuôi con là Trần Thị Ngọc N, sinh ngày: 23/3/2004. Trần Thanh S hông yêu cầu Nguyễn Thị Hồng P cấp dưỡng nuôi con.

Trần Thanh S cùng các thành viên trong gia đình hông được cản trở

Nguyễn Thị Hồng P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

4. Về án phí và tạm ứng án phí sơ thẩm: Nguyễn Thị Hồng P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được hấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà Nguyễn Thị Hồng P đã nộp tạm ứng án phí theo iên lai số 0005057, ngày 10/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp (Nguyễn Thị Hồng P đã nộp xong).

Các đương sự được quyền háng cáo ản án này trong hạn 15 ngày ể từ ngày tuyên án (06/8/2020).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ