vanban.org

Bản án 37/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Thị H.

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Lâm Thị H với anh Lữ Văn G là vợ chồng. Về con chung: Giao cháu Lữ Nguyên K, sinh ngày 26/02/2005 và Lữ Thiện Y, sinh ngày 05/4/2008 cho chị Lâm Thị H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Lữ Văn G có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lâm Thị H - Lữ Văn G"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2020/HNGĐ-ST
Ngày 26 – 02 - 2020
V/v ly hôn, con chung

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Minh Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Châu Trung Trực

Ông Nguyễn Văn Hiển

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Mai là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi.

Ngày 26 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 05/2020/TLST - HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2020 về việc ly hôn, con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lâm Thị H, sinh năm 1984; cư trú tại: Ấp XM, xã QP, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Lữ Văn G, sinh năm 1978; cư trú tại: Ấp XM, xã QP, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Chị Lâm Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lữ Văn G kết hôn năm 2004, không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống, thời gian đầu hạnh phúc, thời gian sau vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do thời gian gần đây anh Gg không lo làm ăn, có người phụ nữ khác bên ngoài, gia đình có khuyên nhưng anh G không thay đổi và anh G đã bỏ nhà đi không về. Vợ chồng ly thân từ tháng 6/2019. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh G.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 người con tên Lữ Nguyên Kg, sinh ngày 26/02/2005 và Lữ Thiện Y, sinh ngày 05/4/2008. Khi ly hôn, 02 con có nguyện vọng sống với ai người đó nuôi, cấp dưỡng không đặt ra.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về các vấn đề khác: Vợ chồng không có nợ người khác và không có người khác nợ lại vợ chồng.

Đối với anh Lữ Văn G đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng anh không có ý kiến kiến đối với nội dung, yêu cầu khởi kiện của chị H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Lâm Thị H khởi kiện yêu cầu giải quyết về quan hệ hôn nhân, con chung với anh Lữ Văn G là vụ kiện tranh chấp ly hôn, do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Còn anh G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên tòa không phải vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh G, chị H.

Xét về quan hệ hôn nhân, Hội đồng xét xử thấy rằng: Vào năm 2004, chị H và anh G chung sống với nhau trên tinh thần tự nguyện, không có đăng ký kết hôn theo quy định. Như vậy, mối quan hệ hôn nhân giữa chị H với anh G không được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét về con chung, Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo chị H xác định, khi ly hôn cháu K, cháu Y có nguyện vọng sống với ai thì người đó nuôi, cấp dưỡng không đặt ra. Tuy nhiên, anh G không có ý kiến về nuôi con và cấp dưỡng. Xét thấy: Theo biên bản ghi nguyện vọng ngày 06/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi đối với cháu K và cháu Y thì hai cháu có nguyện vọng sống chung với chị H. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu K và cháu Y cho chị H nuôi dưỡng là phù hợp.

Xét về tài sản chung và các vấn đề khác, Hội đồng xét xử nhận thấy: Chị H xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn anh G không có ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Xét về án phí dân sự: Chị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 5; Điều 91; Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 14; Điều 15; khoản 2 Điều 53; khoản 1, khoản 2 Điều 81; khoản 1, khoản 3 Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Thị H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Lâm Thị H với anh Lữ Văn G là vợ chồng.

2. Về con chung: Giao cháu Lữ Nguyên K, sinh ngày 26/02/2005 và Lữ Thiện Y, sinh ngày 05/4/2008 cho chị Lâm Thị H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Lữ Văn G có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.

3. Về án phí dân sự: Chị Lâm Thị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0010189 ngày 07 tháng 01 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; chị H đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ