- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "vay tài sản"
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2020/DS-ST Ngày: 13/5/2020. V/v tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI,TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Vũ Sơn.
- Các Hội thẩm nhân dân :
1. Ông Tôn Phước Thuận;
2. Bà Phan Thị Nga.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Lắm là thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới – tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 74/2020/TLST- DS ngày 06 tháng 02 năm 2020 về việc tranh chấp: “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102A/2020/QĐST-DS ngày 24 tháng 3 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 102/2020/QĐST – DS ngày 27/4/2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Đẹp, sinh năm 1972; địa chỉ: ấp Phú Thượng 2, xã Kiến An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang (có mặt).
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hòa, sinh năm 1961; địa chỉ: ấp Long Thạnh 2, xã Long Giang, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN;
Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai, biên bản không hòa giải được và tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Thị Đẹp trình bày: Do chổ quen biết với bà Hòa, bà có cho bà Hòa vay tiền và mượn số vàng cụ thể như sau:
Lần 1: Vào ngày 08/01/2015 âm lịch, cho bà Hòa mượn số tiền 25.000.000 đồng, có thỏa thuận lãi suất 80.000 đồng/1.000.000 đồng/tháng, đóng được 06
- 1 -
tháng được số tiền 12.000.000 đồng, thỏa thuận khoảng 01 tháng sẽ trả, mục đích mượn để đóng tiền học phí cho con, mua bán quán, có làm biên nhận, bà Hòa có ký nhận.
Lần 2: Vào ngày 24/3/2015 âm lịch, cho bà Hòa mượn số tiền 40.000.000 đồng, có thỏa thuận có thỏa thuận lãi suất 80.000 đồng/1.000.000 đồng/tháng, đóng được 03 tháng được số tiền 9.600.000 đồng, thỏa thuận khoảng 02 đến 03 tháng sẽ trả nhưng đến nay không trả, mục đích mượn để sinh hoạt trong gia đình, đóng học phí cho con, có làm biên nhận và bà Hòa có ký tên.
Lần 3: Vào ngày 19/01/2016, có cho bà Hòa mượn 15 chỉ vàng 24 kra, không thỏa thuận lãi suất, mục đích chuộc lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngân hàng, thỏa thuận trong 01 tháng trả nhưng không trả, có làm biên nhận, bà Hòa ký tên.
Các biên nhận do con bà Hòa ghi và bà Hòa ký nhận, bà giao tiền trực tiếp cho bà Hòa.
Bà đồng ý khấu trừ toàn bộ số tiền lãi bà Hòa đóng dư vào số tiền gốc mà bà Hòa đã vay của bà, số tiền bà Hòa đóng cho bà được 21.600.000 đồng, khấu trừ vào số tiền gốc 65.000.000 đồng nên còn lại số tiền 43.400.000 đồng.
Nay bà yêu cầu bà Nguyễn Thị Hòa trả cho bà số tiền 43.400.000 đồng và 15 chỉ vàng 24kra loại 9999, không yêu cầu tính lãi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật.
Ý kiến giải quyết vụ án:
Ngày 08/01al/2015, bà Trần Thị Đẹp có cho Nguyễn Thị Hòa vay số tiền 25.000.000 đồng, lãi suất 80.000 đồng/1.000.000 đồng/tháng, bà Hòa trả được 6 tháng với số tiền 12.000.000 đồng. Ngày 24/3al/2015, bà Đẹp cho bà Hòa vay 40.000.000 đồng, lãi xuất 80.000 đồng/1.000.000 đồng/tháng, bà Hòa trả được 3 tháng với số tiền 9.600.000 đồng. Ngày 19/01/2016, bà Đẹp tiếp tục cho bà Hòa vay 15 chỉ vàng 24kara (loại 9999) cả ba lần vay đều làm biên nhận nợ. Mục đích bà Hòa vay là để đóng tiền học phí cho con, chuộc lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Hòa, đã trả được 21.600.000 đồng. Nay, bà Đẹp yêu cầu bà Hòa trả 43.400.000 đồng và 15 chỉ vàng 24kara (loại 9999) không yêu cầu tính lãi.
Phía bà Hòa đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do và không gửi văn bản ghi ý kiến.
Xét thấy, hợp đồng vay tài sản giữa bà Đẹp với bà Hòa được xác lập trên cơ sở tự nguyện, thỏa thuận và được ký kết trên các biên nhận nợ ngày 08/01al/2015, 24/3al/2015, 19/01al/2016 thể hiện nội dung bà Hòa có ký xác nhận đã vay tiền, vàng của bà Đẹp là 65.000.000 đồng và 15 chỉ vàng 24kara (loại 9999) bà Hòa đã trả được 21.600.000 đồng. Mặt khác, từ khi bà Đẹp khởi kiện đến nay, bà Hòa không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của bà Đẹp, nên bà Đẹp yêu
- 2 -
cầu bà Hòa trả 43.400.000 đồng và 15 chỉ vàng 24kara (loại 9999) là có căn cứ phù hợp Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự và Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về lãi suất, bà Đẹp đồng ý khấu trừ số tiền lãi 21.600.000 đồng vào số tiền vốn và không yêu cầu tính lãi suất nên không đề cập giải quyết.
Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự, đề nghị:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Đẹp đối với bà Nguyễn Thị Hòa.
- Buộc bà Nguyễn Thị Hòa có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị Đẹp số tiền vay 43.400.000 đồng và 15 chỉ vàng 24kara (loại 9999).
Tòa án đã tiến hành thông báo thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ bà Nguyễn Thị Hòa đến Tòa án để tham gia phiên hòa giải nhưng bà không đến và cũng không gửi ý kiến cho Tòa án xem xét. Do đó Tòa án không tiến hành hòa giải được vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên tòa, và kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Nguyên đơn khởi kiện bị đơn bà Nguyễn Thị Hòa có nơi cư trú tại ấp Long Thạnh 2, xã Long Giang, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại điều 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà Nguyễn Thị Hòa được tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ Điều 228 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Hòa.
[2] Qua lời trình bày của bà Đẹp và các tài liệu chứng cứ cung cấp, qua quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xác định giữa bà Hòa với bà Đẹp có thỏa thuận với nhau việc vay tiền và vàng Tromg tất cả 03 lần vay tiền là 65.000.000 đồng và số vàng 15 chỉ vàng 24kara (loại vàng 9999), hai bên thỏa thuận lãi suất 80.000 đồng/1.000.000 đồng/tháng, mục đích vay để đóng tiền học phí cho con, mua bán quán, chuột giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thời hạn vay trong vòng 01 tháng sẽ trả cho bà Đẹp. Từ khi vay bà Hòa có đóng lãi được số tiền 21.600.000 đồng, nhưng đến nay vẫn không trả vốn. Xét thấy việc vay mượn giữa các bên được xác lập trên cơ sở tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, và phù hợp với Điều 463 Bộ luật dân sự, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Bà Hòa không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ khi bà Đẹp có yêu cầu thu hồi vốn làm thiệt thòi quyền lợi của bà. Trong quá trình hòa giải cũng như tại phiên tòa bà Hòa vắng mặt và cũng không gửi ý kiến trình bày để Hội đồng xét xử xem xét, bà Đẹp xuất trình chứng cứ là biên nhận nợ giữa bà với bà Hòa. Tại phiên tòa bà Đẹp cũng đồng ý khấu trừ số tiền lãi đóng dư của bà Hòa là 21.600.000 đồng vào số tiền gốc 65.000.000 đồng, sau khi khấu trừ còn lại số tiền 43.400.000 đồng, do vậy bà Đẹp yêu cầu bà Hòa có nghĩa vụ trả cho bà tiền vốn vay 43.400.000 đồng và 15 chỉ
- 3 -
vàng 24K (loại 9999) là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận. Từ những cơ sở phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đẹp, buộc bà Hòa có nghĩa vụ trả cho bà Đẹp số tiền vay 43.400.000 đồng và 15 chỉ vàng 24 ka ra (loại 9999).
[3] Về lãi suất: Tại phiên tòa bà Đẹp không yêu cầu tính lãi suất. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bà Nguyễn Thị Hòa phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH;
Căn cứ:
Các Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Điều 26, 35, 39, 144, 147, 228, 235, 244, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Thị Đẹp.
Buộc bà Nguyễn Thị Hòa có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị Đẹp số tiền vốn vay 43.400.000 đồng (bốn mươi ba triệu bốn trăm ngàn đồng) và 15 chỉ vàng 24 ka ra (loại 9999).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Nguyễn Thị Hòa phải chịu án phí 2.170.000 đồng (hai triệu một trăm bảy chục ngàn đồng).
- Bà Trần Thị Đẹp được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 3.237.000 đồng (ba triệu hai trăm ba mươi bảy ngàn đồng) theo biên lai thu số 0007977 ngày 05.02.2020của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất
- 4 -
cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Đương sự có mặt tham gia phiên toà có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh An Giang; -VKSND huyện Chợ Mới; -Chi cục THADS huyện Chợ Mới; -Các đương sự; -Lưu. - 5 - | TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Vũ Sơn |