- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Ba Dang Hong P tranh chap thua ke voi ong Dang Quy H"
- Tòa quyết gì? Không ch p nhận toàn bộ yêu c u hởi iện của nguyên đơn bà Đặng Hồng P gồm yêu c u phân chia di sản th a của cụ Đặng Quý H1 và Nguy n Thị A theo pháp luật và yêu c u hủy 06 Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t của Ủy ban nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn bao gồm: Gi y chứng nhận…
- Căn cứ chính? Điều 143 Luật Tố tụng hành chính; Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2020/DS-PT Ngày 22-5-2020 V/v tranh ch p chia di sản th a và yêu c u hủy Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lộc Sơn Thái
Các Thẩm phán: Ông Vi Đức Trí
Ông Cao Đức Chi n
- Thư ký phiên tòa: Bà Tạ Thị Hồng Trâm - Thƣ ý Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn: Bà Mông Thị Mai Phƣơng - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong các ngày 21, 22 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử phúc thẩm công hai vụ án thụ lý số 12/2019/TLPT-DS ngày 31 tháng 12 năm 2019 về tranh ch p chia di sản th a và yêu c u hủy Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 21/2019/DS-ST ngày 18 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn bị háng cáo.
Theo Quy t định đƣa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 24/2020/QĐ-PT ngày 25 tháng 02 năm 2020; Quy t định hoãn phiên tòa số 56/2020/QĐ-PT ngày 08 tháng 5 năm 2020; giữa các đƣơng sự:
- Nguyên đơn: Bà Đặng Hồng P, sinh năm 1957, địa chỉ: Thôn D, xã S, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.
Ng i b o v quy n và l i ích h p pháp của nguyên đơn: Luật sƣ Trƣơng Quốc H - Văn phòng Luật sƣ I thuộc Đoàn Luật sƣ thành phố Hà Nội, địa chỉ: Đƣ ng T, quận H, thành phố Hà Nội, có mặt.
- Đồng bị đơn
1. Ông Đặng Quý H, sinh năm 1962, địa chỉ: Đƣ ng C, hu A, thị tr n H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.
2. Ông Đặng Quý C, sinh năm 1954, địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.
- Ng i có quy n l i, nghĩa vụ liên quan
1. Bà Đặng Thị H, sinh năm 1952, địa chỉ: Đƣ ng B, hu N, thị tr n H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
Ng i đại di n theo ủy quy n của bà Đặng Thị H: Bà Đặng Hồng P, địa chỉ: Thôn D, xã S, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, có mặt
2. Ông Đặng Quý T tức Đặng Quý T ; Đặng Văn C, Đặng Quốc C, Đặng Văn T), sinh năm 1960, địa chỉ: Đƣ ng B, hu T, thị tr n H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.
3. Bà Đặng Thị Y, sinh năm 1964, địa chỉ: Đƣ ng C, hu T, thị tr n H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.
4. Anh Đặng Quý Đ, sinh năm 1983, địa chỉ: Đƣ ng B, hu N, thị tr n H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.
5. Chị Triệu Thị Thanh T, sinh năm 1981, địa chỉ: Đƣ ng B, hu N, thị tr n H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
6. Anh Đặng Quý T1, sinh năm 1986, địa chỉ: Đƣ ng B, hu N, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
7. Bà Nguy n Thị B, sinh năm 1955, địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện Ƣ, thành phố Hà Nội, vắng mặt.
8. Anh Đặng Quý M, sinh năm 1987, địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện Ƣ, thành phố Hà Nội, vắng mặt.
9. Chị Đặng Thanh L, sinh năm 1980, địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện Ƣ, thành phố Hà Nội, vắng mặt.
10. Chị Đặng Thị Hồng Ơ, sinh năm 1994, địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
11. Bà Hoàng Thị Y, sinh năm 1971, địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
12. Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
Ng i đại di n theo pháp luật của Ủy ban nhân dân huy n H: Ông Long Văn S – Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
Ng i đại di n theo ủy quy n của Ủy ban nhân dân huy n H: Ông Vũ Thành D - Chuyên viên Phòng Tài nguyên - Môi trƣ ng huyện H, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
13. Ủy ban nhân dân xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
Ng i đại di n theo ủy quy n Ủy ban nhân dân xã Y: Bà Nguy n Thị Lệ D
- Cán bộ Địa chính xây dựng xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
14. Ủy ban nhân dân xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn
Ng i đại di n theo pháp luật Ủy ban nhân dân xã Y: Ông Triệu Đức C - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
15. Ông Nguy n Văn N, địa chỉ: Thôn S, xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
16. Bà Nguy n Thị , sinh năm 1931 và anh Tạ Văn Đ, cùng địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, cả hai đều vắng mặt.
17. Ông Tr n Văn C và bà Nguy n Thị T, cùng địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, cả hai đều vắng mặt.
18. Ông Nguy n Khắc S, sinh năm 1964, địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
19. Ông Đặng Văn H, sinh năm 1962, địa chỉ: Thôn S, xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
20. Bà Nguy n Thị T1, địa chỉ: Thôn S, xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
21. Ông Tạ Văn H; địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
22. Ông Đặng Văn H1, địa chỉ: Thôn S, xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
23. Ông Nguy n Văn L và bà Đào Thị C, cùng địa chỉ: Thôn S, xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, cả hai đều vắng mặt.
24. Ông Lê uân H, địa chỉ: Thôn S, xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
25. Ông Đặng Quý S tức Đặng Huy S), sinh năm 1969, địa chỉ: Thôn S, xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
26. Bà Nguy n Thị H và ông Lƣơng Văn L, cùng địa chỉ: Thôn S, xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, cả hai đều vắng mặt.
27. Ông Đặng Quý S1, sinh năm 1969, địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện Ƣ, thành phố Hà Nội, có mặt.
28. Bà Đặng Thị , sinh năm 1967, địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện Ƣ, thành phố Hà Nội, có mặt.
29. Chị Đặng Thị M, sinh năm 1985, địa chỉ: Đƣ ng T, phƣ ng P, quận H, thành phố Hà Nội, vắng mặt.
- Ng i kháng cáo: Bà Đặng Hồng P là nguyên đơn, bà Đặng Thị Y, bà Đặng Thị H và ông Đặng Quý T là ngƣ i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và Bản án dân sự sơ thẩm, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Cụ Đặng Quý H1 t hôn với cụ Nguy n Thị A sinh đƣợc 08 ngƣ i con gồm: Ông Đặng Quý B sinh năm 1943 - ch t tháng 2/2018; có 03 ngƣ i con là Đặng Thị , Đặng Quý S1 và Đặng Thị M), bà Đặng Thị N sinh năm 1946 – ch t năm 1951, hông có ngƣ i con nào), bà Đặng Thị H, ông Đặng Quý C, bà Đặng Hồng P, ông Đặng Quý T, ông Đặng Quý H và bà Đặng Thị Y. Năm 2003, cụ Đặng Quý H1 ch t và năm 2010, cụ Nguy n Thị A ch t.
Tại đơn hởi iện, các biên bản l y l i hai và l i hai tại Tòa, nguyên đơn bà Đặng Hồng P trình bày: Bố mẹ bà ch t hông để lại di chúc, hông để lại nghĩa vụ tài chính gì; chi phí mai táng phí đã thực hiện. Vì vậy, bà hởi iện ông Đặng Quý H, Đặng Quý C yêu c u chia tài sản của bố mẹ để lại, chia theo pháp luật cho bẩy anh chị em gồm: Đặng Thị H, Đặng Quý C, Đặng Hồng P, Đặng Quý T, Đặng Quý H, Đặng Thị Y và một su t cho ba ngƣ i con của ông Đặng Quý Bá, chia b ng hiện vật. Cụ thể bố mẹ bà hi ch t để lại những tài sản sau:
- Đ t lân, bãi, ruộng do gia đình hai phá tại xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn sau đây vi t tắt là xã Y), bao gồm:
+ Các thửa đ t đƣợc nêu trong Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số H 975856 c p ngày 20/02/1997 mang tên ông Đặng Quý C.
+ Các thửa đ t đƣợc nêu trong các Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số BG 243908, BG 243909, BG 243910 cùng c p ngày 18/02/2013 mang tên hộ ông Đặng Quý C.
+ Các thửa đ t đƣợc nêu trong các Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số BK 579179, BK 579180 cùng c p ngày 27/9/2013 mang tên hộ ông Đặng Quý C, bà Hoàng Thị Y.
+ Các thửa đ t ông Đặng Quý C đã bán nhƣ: Đ t tại khu B bán cho gia đình ông Lê uân H; đ t chuồng lợn bán cho ông Tạ Văn H, đ t hu N bán cho ông Nguy n Khắc S, thửa đ t bán cho ông Tr n uân C, đ t hu ruộng xx sào bán cho bà Nguy n Thị , đ t hu bên Suối bán cho gia đình bà Đào Thị C – ông Nguy n Văn L, đ t hu dƣới 5 sào bán cho gia đình ông Nguy n Văn N, đ t hu cửa đập bán cho vợ chồng ông bà Nguy n Thị T1 – L, đ t hu Sào xx bán cho gia đình ông Đặng Văn H; đ t tại xã Y1 bán cho các ông Đặng Quý S, Lƣơng Văn L1; các thửa đ t trên bà hông bi t cụ thể số thửa, t bản đồ và bán t hi nào, bà cũng hông bi t.
+ Một số thửa đ t ông Đặng Quý C đang sử dụng chƣa đƣợc c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t, gồm: Thửa đ t số 28 t bản đồ số 91 có diện tích 241,6m2; thửa đ t số 19, t bản đồ số 91 diện tích 262,2m2 xã Y; thửa đ t số 50, 52 t bản đồ 01 nay là thửa đ t số 109 t bản đồ 91) có tổng diện tích 8.903,4m2 đã bị nhà nƣớc thu hồi 2.876m2 còn lại 6.027,4 m2.
+ Số tiền 532.424.000 đồng đƣợc đền bù hi thu hồi đ t tại xã Y do ông Đặng Quý C nhận và sử dụng.
- Đ t tại xã Y1, huyện H, tỉnh Lạng Sơn sau đây vi t tắt là xã Y1) mà ông Đặng Quý C đã bán cho ông Nguy n Văn N, ông Nguy n Văn H, bà Nguy n Thị L, bà Đào Thị C chồng là ông L, bà hông bi t họ đệm trƣớc đây toàn bộ đ t của gia đình bà đều thuộc xã Y, nay lại có một ph n thuộc xã Y1 bà hông bi t vì sao).
- Đ t tại hu N, thị tr n H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn sau đây vi t tắt là khu N) có 2.315m2 gồm: Thửa đ t số 03 diện tích 1.915m2 và thửa đ t số 05 ao) diện tích 400m2, đều thuộc t bản đồ số 41, đã đƣợc c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t mang tên bố là Đặng Quý H1, hiện ông Đặng Quý H đang quản lý, sử dụng. Trên đ t có 01 ngôi nhà g 5 gian, 02 buồng be b ng g đinh và một số cây ăn quả nhƣ: Mít, Nhãn, Bƣởi, Vải Thiều...
Đ t tại khu N hi chia phải để lại một con đƣ ng đi chung rộng 3m cho các hộ phía trong. Còn ngôi nhà g 5 gian hông chia mà đề chuyển về quê tại thôn T, xã C, huyện Ƣ, thành phố Hà Nội làm nhà th cúng sau này. Các cây trên đ t của ai đƣợc chia thì ngƣ i đó hƣởng hông yêu c u chia. Ngoài ra, bà còn yêu c u hủy các Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t: Số BG 243908, BG 243909, BG 243910 c p cùng ngày 18/02/2013 mang tên hộ ông Đặng Quý C; số H 975856 c p ngày 20/02/1997 mang tên ông Đặng Quý C; số BK 579179 và BK 579180 c p cùng ngày 27/9/2013 mang tên hộ ông Đặng Quý C, bà Hoàng Thị Y. T t cả đều do Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Lạng Sơn c p.
Tại b n t khai và các l i khai ti p theo bị đơn ông Đặng Quý H trình bày: Khi bố, mẹ ông ch t có để lại di chúc, phân chia tài sản cho các con trai gồm: Ông Đặng Quý C đƣợc chia toàn bộ đ t tại xã Y; ông đƣợc chia toàn bộ nhà, đ t, tài sản trên đ t và 02 cái ao tại khu N đứng tên Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t của bố và mẹ; ông Đặng Quý T đƣợc chia 1.585m2 đ t tại khu N và ông Đặng Quý T đã đƣợc c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t. Trong di chúc của bố, mẹ còn nêu r các con gái đi xây dựng gia đình hông chia tài sản, ông Đặng Quý B lập gia đình sớm ở riêng tại Hà Nội hông chia. Chúc thƣ của bố và di chúc của mẹ đều đƣợc lập b ng văn bản, có ngƣ i làm chứng, có xác nhận của Trƣởng khu N và Ủy ban nhân dân thị tr n H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn đúng quy định. Bản chúc thƣ của bố và di chúc của mẹ đều có nội dung nhƣ nhau, bố mẹ ông đã định đoạt chia các ph n đ t nhƣ hiện nay cho ba anh em ông là ông Đặng Quý C, ông Đặng Quý T và ông đang quản lý, sử dụng thực t . Tuy nhiên, do có sự b t hòa trong gia đình giữa mẹ và ông Đặng Quý T nên năm 2009, mẹ ông có yêu c u cháu Đặng Quý T1 sửa lại một ph n trong bản di chúc ph n định đoạt tài sản cho ông Đặng Quý C. Nhƣng ph n tài sản này ông Đặng Quý C đã đƣợc c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t t trƣớc hi mẹ ông sửa di chúc.
Nay bà Đặng Hồng P hởi iện yêu c u chia th a theo pháp luật, ông hông đồng ý vì bố mẹ ông ch t có để lại di chúc nên đề nghị Tòa án công nhận di chúc của bố, mẹ để lại là hợp pháp. Đối với yêu c u hủy 06 Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t mà bà Đặng Hồng P đang yêu c u, ông hông ch p nhận và đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu c u hởi iện của bà Đặng Hồng P.
Tại b n t khai và các l i khai ti p theo bị đơn ông Đặng Quý C trình bày: Đ t tại khu N, t hi còn sống bố mẹ đã chia một ph n cho ông Đặng Quý C và ông Đặng Quý C đã đƣợc c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t, ph n còn lại là 2.315m2 trên đ t có 01 ngôi nhà g 5 gian và một số cây ăn quả vẫn do bố mẹ quản lý. Sau hi bố, mẹ ch t, bố có để lại Chúc thƣ và mẹ để lại Di chúc , cả bố và mẹ đã định đoạt một ph n đ t tại khu N chia cho ông Đặng Quý T chính là ph n ông Đặng Quý T đã đƣợc c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t, còn lại giao h t cho ông Đặng Quý H quản lý, canh tác; ph n trong xã Y, xã Y1 là chia cho ông toàn bộ. Ông đã quản lý, sử dụng canh tác ổn định t đó đ n nay, hông có ai tranh ch p, hàng năm ông vẫn nộp thu cho Nhà nƣớc đ y đủ, các anh em trong gia đình đều bi t và hông ai có ý i n gì. Ông đã đƣợc Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Lạng Sơn sau đây vi t tắt là Ủy ban nhân dân huyện H) c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t đối với các thửa đ t tại xã Y. Năm 1993, mẹ ông bán một mảnh đ t hoảng 4 sào cạnh nhà tại xã Y1 cho ông Lê uân Y và bảo ông vi t gi y mua bán là giấy bán công c i tạo đất đoạn mại , còn bản thân ông hông đƣợc bán ph n đ t nào tại đây. Nay ông hông đồng ý với yêu c u hởi iện của bà Đặng Hồng P và hẳng định đ t tại xã Y, xã Y1 là của bố mẹ đã chia cho ông t hi bố mẹ còn sống, hông còn là di sản th a .
Đối với thửa đ t số 26 là thửa đ t ao tại khu N, đã đƣợc Ủy ban nhân dân huyện H giải quy t tranh ch p giữa mẹ ông với ông Đặng Quý T và quy t định trả lại đ t ao cho mẹ ông, nên mẹ ông mới đƣợc c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t đối với thửa đ t này. Tại di chúc của mẹ cũng đã định đoạt chia cho ông Đặng Quý H thửa đ t này và hiện ông Đặng Quý H vẫn đang quản lý sử dụng. Nay ông Đặng Quý T hởi iện yêu c u hủy Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t đã đƣợc Ủy ban nhân dân huyện H c p cho bà Nguy n Thị A đối với thửa đ t số 26, ông hông đồng ý. Đề nghị Tòa án bác yêu c u của ông Đặng Quý T.
Những ng i có quy n l i, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Ông Đặng Quý T khai: Bố mẹ ông ch t hông để lại di chúc, hông để lại nghĩa vụ tài chính gì. Chi phí mai táng đã tự thỏa thuận, hông yêu c u giải quy t. Nay ông đồng ý theo yêu c u hởi iện của bà Đặng Hồng P, yêu c u chia di sản th a của bố mẹ thành bẩy ph n b ng nhau cho sáu anh chị em m i ngƣ i một ph n, một ph n còn lại chia cho ba ngƣ i con của ông Đặng Quý B; yêu c u chia b ng hiện vật, riêng ngôi nhà g 5 gian hông chia mà chuyển về quê làm nhà th cúng sau này.
Đối với Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số AM 802918 của Ủy ban nhân dân huyện H đã c p cho cụ Nguy n Thị A ngày 16/6/2009 tọa tại khu N mà ông hởi iện tại Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn. Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã chuyển hồ sơ về Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng nhập vào cùng một vụ án dân sự để giải quy t, ông hông đồng ý. Lý do ông yêu c u hủy Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t của bà Nguy n Thị A là do thửa đ t số 26 t bản đồ số 14, diện tích 1.663m2 là đ t của ông đã đƣợc Ủy ban nhân dân huyện H c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t năm 1993, nay lại c p cho bà Nguy n Thị A là hông đúng đối tƣợng.
Bà Đặng Thị H và bà Đặng Thị Y nh t trí với quan điểm của bà Đặng Hồng P và đề nghị Tòa án chia th a theo pháp luật.
Bà Đặng Thị X, ông Đặng Quý S1 và bà Đặng Thị M là các con của ông Đặng Quý B), các anh chị hông có ý i n, yêu c u gì thêm, đề nghị Tòa án giải quy t vụ án theo quy định pháp luật.
Anh Đặng Quý Đ trình bày: Anh là con trai của ông Đặng Quý C, năm 1991 anh ra ở với ông bà nội là ông Đặng Quý H1 và bà Nguy n Thị A tại khu N. Hiện tại, anh vẫn ở nh và inh doanh làm bánh mỳ tại đây. Toàn bộ đ t tại xã Y, xã Y1, ông bà nội đã giao cho bố anh là Đặng Quý C quản lý, canh tác t hi ông bà còn sống; còn nhà, đ t tại khu N một ph n là của chú Đặng Quý H, một ph n là của chú Đặng Quý C cũng đã đƣợc ông bà chia cho t hi ông bà còn sống, ph n chú Đặng Quý C đã đƣợc c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t, ph n chú Đặng Quý H hiện nay vẫn đứng tên ông, bà. Đối với thửa đ t số 26, chú Đặng Quý C đang hởi iện hành chính, anh hông bi t n m ở vị trí nào tại khu N vì toàn bộ đ t tại khu N hiện chỉ có chú Đặng Quý H và chú Đặng Quý C quản lý. Anh hông có liên quan gì đ n vụ án, anh chỉ ở nh trên đ t ông Đặng Quý H, n u ông Đặng Quý H yêu c u anh chuyển thì anh s dọn đi nơi hác, anh hông có ý i n, yêu c u gì trong vụ án này.
Chị Tri u Thị Thanh T trình bày: Chị là con dâu ông Đặng Quý C, là vợ anh Đặng Quý Đ. Hiện nay, vợ chồng chị đang ở nh và trông nom nhà cửa cho ông Đặng Quý H tại khu N và inh doanh làm bánh mì tại đây. N u ông Đặng Quý H yêu c u gia đình chị chuyển đi thì vợ chồng chị s chuyển đi nơi hác và hông có yêu c u gì.
Anh Đặng Quý T1 trình bày: Anh là con trai của ông Đặng Quý C. Đối với bản chúc thƣ của ông nội thì anh hông đƣợc bi t, còn bản di chúc của bà nội thì anh là ngƣ i vi t. Nội dung di chúc là do bà nội đọc cho anh vi t, có sự chứng i n của các ông Nguy n Văn H, ông Nông Đức L, ông Lê Văn Đ, ông Nguy n Hồng Đ và chị Nguy n Thị N. Bà nội đọc di chúc cho anh vi t trong trạng thái ngồi và đ u óc hoàn toàn minh mẫn, tỉnh táo và bà còn yêu c u anh vi t địa chỉ là L Đ chứ hông phải N Đ để giống với địa chỉ trong chúc thƣ của ông nội. Sau hi vi t xong di chúc, anh đã đọc lại cho t t cả mọi ngƣ i cùng nghe và cùng ý chứng i n ngay sau hi lập xong di chúc, ông Nguy n Hồng Đ là Trƣởng khu N cũng ý xác nhận ngay tại đó. Khoảng một tháng sau, anh đƣa bà nội ra Ủy ban nhân dân thị tr n H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn sau đây vi t tắt là Ủy ban nhân dân thị tr n H) để chứng thực bản di chúc. Ông Ninh Ngọc T là Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị tr n H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn đã đọc lại t ng điều, bà đồng ý, hông sửa đổi bổ sung gì và Chủ tịch đã ý xác nhận chứng thực di chúc là hợp lệ. Anh hẳng định nội dung di chúc của bà Nguy n Thị A là hoàn toàn hợp pháp, đúng ý nguyện của bà và hông bị ai ép buộc. Khoảng một năm sau, bà Nguy n Thị A yêu c u anh sửa nội dung tại ph n ba trong bản di chúc đối với ph n tài sản chia cho ông Đặng Quý T, sửa lại là cho anh Đặng Quý Đ vì ông Đặng Quý T b t hi u với bà. Anh đã sửa di chúc theo đúng ý nguyện của bà, l n sửa đổi này thì hông có ai chứng i n và do bận việc nên anh cũng hông nhớ đƣa bà đi l y xác nhận vào nội dung đã sửa trong di chúc. Sau m i l n vi t, sửa xong di chúc thì anh đƣa lại cho bà nội, việc tại sao có 02 di chúc nội dung có ch hác nhau thì anh hông giải thích đƣợc.
Bà Hoàng Thị Y trình bày: Bà là vợ của ông Đặng Quý C, t hi về sống chung, toàn bộ tài sản ở xã Y hai vợ chồng đã cùng nhau canh tác, tạo dựng inh t và vẫn giữ nguyên hiện trạng hông chuyển nhƣợng thửa đ t nào cho ai. Năm 2013, bà có đƣợc đứng tên trong hai Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t với ông Đặng Quý C. Nay bà nh t trí với quan điểm của ông Đặng Quý C đề nghị Tòa án xem xét theo quy định của pháp luật.
Bà Nguy n Thị B, anh Đặng Quý M, ông Đặng Thanh L, bà Đặng Thị Hồng đã có văn bản ủy quyền toàn bộ cho anh Đặng Quý T1 tham gia tố tụng nên hông cung c p l i hai theo Gi y triệu tập của Tòa án.
Ông Nguy n Văn N trình bày: Ông đƣợc mua 5 sào đ t tại hu vực G, thôn S, xã Y1 với ông Đặng Quý C vào năm 2001 với giá là 2.500.000 đồng, khi mua có lập gi y mua bán vi t tay. Sau đó, ông đã gộp chung ph n đ t trên với một ph n đ t ruộng của ông, năm 2004, ông đã đƣợc c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t và sử dụng ổn định hông có ai tranh ch p. Đây là đ t của ông hông liên quan đ n vụ án nên đề nghị t chối tham gia tố tụng.
Bà Nguy n Thị X và anh Tạ Văn Đ trình bày: Bà đƣợc mua đ t với ông Đặng Quý H1 diện tích đ t là 5 sào nhƣng bà hông nhớ mua vào th i gian nào; hi mua hai bên có làm gi y t mua bán, tuy nhiên, th i gian đã lâu nên gi y t đã bị th t lạc hông cung c p đƣợc cho Tòa án. Nay con trai bà là Tạ Văn Đ đang quản lý sử dụng ph n diện tích đ t trên và cũng đã đƣợc c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t mang tên Tạ Văn Đ. Đây là đ t của gia đình bà hông liên quan đ n vụ án nên đề nghị t chối tham gia tố tụng.
Bà Nguy n Thị T và ông Tr n Văn C (chồng) trình bày: Gia đình bà có đƣợc mua đ t tại thôn N, xã Y với ông Đặng Quý H1 và bà Nguy n Thị A vào hoảng năm 1988 – 1989, diện tích hoảng 500m2, hi mua có làm gi y t mua bán nhƣng đã th t lạc, sau đó, gia đình bà đã đƣợc c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t. Hiện mảnh đ t này, bà đã cho con trai là Tr n Văn C quản lý, sử dụng ổn định, hông có tranh ch p. Đây là đ t của gia đình bà hông liên quan đ n vụ án nên đề nghị t chối tham gia tố tụng.
Ông Nguy n Khắc S trình bày: Ông có đƣợc mua đ t tại thôn N, xã Y với ông Đ Trí H sống tại huyện K, tỉnh H) t năm 2009 - 2010, lúc mua có làm gi y t vi t tay và có ngƣ i làm chứng là ông Đặng Quý C. Mảnh đ t trên ông Đ Trí H đã đƣợc c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t đứng tên ông, với diện tích hơn 3.700m2 c p năm 2007, nay hông liên quan đ n vụ án, ông t chối tham gia tố tụng.
Ông Đặng Văn H trình bày: Ông hông đƣợc mua bán đ t với gia đình bà Đặng Hồng P, ông Đặng Quý C, ông hông liên quan gì trong vụ án và ông t chối tham gia tố tụng.
Bà Nguy n Thị T1 trình bày: Gia đình bà mua hai thửa đ t số 89 và thửa số 97 đều thuộc t bản đồ số 68 bản đồ địa chính xã Y1 của ông Đặng Quý H1, vợ là Nguy n Thị A vào năm 1986 hoảng 1,1 mẫu tại hu Núi xx), hi mua có lập gi y t mua bán do chồng bà lƣu giữ, gi y mua có chữ ý của ông Đặng Quý H ý làm chứng. Năm 2009, chồng bà ch t, gi y mua bán đã bị th t lạc. Hiện nay, hai thửa đ t trên đã đƣợc Ủy ban nhân dân huyện H c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t năm 2003. Năm 1994 – 1995, gia đình bà đã đổi hu đ t này với ông Tạ Văn H để l y ruộng c y, nay hông còn liên quan gì trong vụ án. Tòa án triệu tập ông Tạ Văn H tham gia tố tụng, tuy nhiên ông Tạ Văn H hông đ n Tòa án. Tại biên bản xác minh ngày 31/7/2019, Ủy ban nhân dân xã Y cho bi t: Ông Tạ Văn H hiện hông còn cƣ trú, sinh sống trên địa bàn thôn N, xã Y mà đã chuyển hẩu đi hỏi địa phƣơng và chuyển nhƣợng toàn bộ đ t đai, nhà cửa tại thôn N cho ông Đ Chí H, ông Đ Chí H lại chuyển nhƣợng cho ông Nguy n Khắc S là ngƣ i cùng thôn.
Anh Đặng Văn H1 trình bày: Gia đình anh đƣợc mua thửa đ t số 49, t bản đồ 68 có diện tích 835m2 với gia đình ông Lƣơng Văn L, có lập gi y mua bán vi t tay nhƣng chƣa làm thủ tục sang tên trên Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t, mua th i gian nào nay anh hông nhớ, gia đình đã sử dụng ổn định hoảng năm năm nay hông có tranh ch p với ai. Gia đình anh hông đƣợc mua thửa đ t nào với gia đình ông Đặng Quý H1, bà Nguy n Thị A, hông liên quan đ n vụ án nên t chối tham gia tố tụng.
Ông Nguy n Văn L và bà Đào Thị C trình bày: Khoảng năm 1997 – 1998, gia đình ông bà có đƣợc mua một thửa đ t với anh Đinh Trung K vợ là Vi Thị H diện tích hoảng 2 sào có gi y mua bán, nay gia đình ông bà đã đƣợc c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t. Ông bà bi t nguồn gốc đ t là mua của gia đình ông Đặng Quý H1, thủ tục nhƣ th nào ông bà hông bi t. Ông bà hẳng định hông đƣợc mua đ t với gia đình ông Đặng Quý H1, bà Nguy n Thị A, ông bà hông liên quan gì trong vụ án nên t chối tham gia tố tụng.
Anh Lê Xuân H trình bày: Bố anh là ông Lê uân Y trƣớc đây có mua một mảnh đ t với ông Đặng Quý H1, diện tích hoảng 3 đ n 4 sào tại khu B. Khi mua có làm gi y t vi t tay, sự việc trên anh có đƣợc nghe bố mẹ nói lại hi ông bà còn sống nên anh bi t nhƣ vậy, còn cụ thể th i gian mua năm nào anh hông bi t. Gia đình anh đã đƣợc c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t đối với ph n đ t này, nay gia đình anh hông liên quan gì đ n vụ án nên t chối tham gia tố tụng.
Ông Đặng Quý S (t c Đặng Huy S) trình bày: Thửa đ t số 41, t bản đồ 68 diện tích 780m2 tại thôn S, xã Y1 là do ông mua với ông Đặng Quý C vào năm 1990. Khi mua có làm gi y vi t tay, đ n năm 1998, gia đình ông đã đƣợc c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t đối với thửa đ t này và c p đổi Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t l n hai vào năm 2004 tại Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số AA 454359, nay hông liên quan gì đ n vụ án nên ông t chối tham gia tố tụng.
Bà Nguy n Thị H (v ông L ơng Văn L) trình bày: Gia đình bà có thửa đ t số 49, t bản đồ 68 do nhận chuyển nhƣợng t ông Tr n Văn C vào hoảng năm 2001 và bà đƣợc bi t thửa đ t này ông Tr n Văn C mua của ông Đặng Quý H1 nhƣng bà hông bi t ông Tr n Văn C mua năm nào. Sau hi mua với ông Tr n Văn C, gia đình bà sử dụng một th i gian và chuyển nhƣợng cho ông Đặng Văn H1, thủ tục chuyển nhƣợng cho ông Đặng Văn H1 nhƣ th nào bà hông bi t vì do chồng bà thực hiện. Bà Nguy n Thị H hẳng định thửa đ t trên hiện hông còn là của gia đình nhà bà. Gia đình bà hông liên quan gì đ n vụ án nên t chối tham gia tố tụng.
Ủy ban nhân dân huy n H, tỉnh Lạng Sơn trình bày: Các Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số BG 143908; BG 243909 và BG 243910 c p cùng ngày 18/02/2013 đều mang tên ông Đặng Quý C, ông Đặng Quý C đƣợc c p đổi t Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số H 975856 ngày 20/02/1997 với tổng diện tích là 20.838m2. Các Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số BK 579179 và BK 579180 cùng c p ngày 27/9/2013 mang tên hộ ông Đặng Quý C, bà Hoàng Thị Y là c p mới l n đ u. Việc c p đổi, c p mới đối với các Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t nêu trên, Ủy ban nhân dân huyện đã c p đúng đối tƣợng, thực hiện c p đúng trình tự, thủ tục, đúng thẩm quyền theo pháp luật quy định, do đó hông ch p nhận yêu c u của bà Đặng Hồng P đề nghị hủy các Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t nêu trên.
Đối với yêu c u hủy Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số H 975856 c p ngày 20/02/1997 cho ông Đặng Qúy C, tuy hồ sơ c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t nêu trên Ủy ban nhân dân huyện chƣa tìm th y nhƣng Ủy ban nhân dân huyện hẳng định việc c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t nêu trên Ủy ban nhân dân huyện H đã thực hiện c p đúng trình tự thủ tục, c p đúng đối tƣợng, đúng thẩm quyền.
Ủy ban nhân dân xã Y, huy n H, tỉnh Lạng Sơn trình bày: 03 Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số BG 243908, BG 243908, BG 243908 đều mang tên ông Đặng Quý C do Ủy ban nhân dân huyện H c p đổi t Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số H 975856 của ông Đặng Quý C. 02 Gi y chứng nhận quyền sử dụng số BK 579179, BK 579180 do Ủy ban nhân dân huyện H c p ngày 27/9/2013 mang tên hộ ông Đặng Quý C, bà Hoàng Thị Y.
Thửa đ t số 109, diện tích 8.903,4m2 thuộc t bản đồ số 91 bản đồ địa chính xã Y, trƣớc đây thuộc thửa đ t số 50 và thửa đ t số 52 t bản đồ số 13 bản đồ giải thửa xã Y, năm 1997 ông Đặng Quý C đã đƣợc c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t. Hiện nay ph n diện tích đ t trên đã chuyển đổi sang là thửa đ t số 109 t bản đồ số 91 nhƣng chƣa đƣợc c p đổi Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t.
Thửa đ t số 28 t bản đồ 91 diện tích 241,6 m2 và thửa đ t số 19 t bản đồ 91 diện tích 262,2m2 tại thôn N, xã Y: Căn cứ bản đồ đo đạc năm 1988 và sổ mục ê ruộng đ t năm 1990 của xã còn lƣu giữ, hông th y thể hiện 02 thửa đ t này trƣớc đây do ai hai phá, quản lý, sử dụng. Đ n năm 2010, xã Y đo lập bản đồ địa chính, tại Sổ mục ê ruộng đ t năm 2014 thể hiện 02 thửa đ t trên do Ủy ban nhân dân xã Y quản lý, nhƣng qua trao đổi với Trƣởng thôn N thì hiện nay hai thửa đ t này đang do ông Đặng Quý C sử dụng và 02 thửa đ t này chƣa đƣợc c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cho ai. Đ t chƣa có quy hoạch xây dựng công trình gì, đang có tranh ch p trong vụ án, nên theo quy định thì chƣa đủ điều iện xét c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cho ai.
Căn cứ theo Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số H 975856 do Ủy ban nhân dân huyện H c p ngày 20/02/1997 mang tên ông Đặng Quý C, thì các thửa đ t trong Gi y chứng nhận này nay có sự thay đổi nhƣ sau:
Các thửa đ t số 13, 14, 15, 16 t bản đồ số 10, nay là thửa số 49 có diện tích 1.471,6m2 đ t; thửa đ t số 26 t bản đồ số 10, nay là thửa đ t số 42 có diện tích 254,3m2 đ t; thửa đ t số 22 t bản đồ số 10, nay là thửa đ t số 43 có diện tích 717,4m2 đ t; các thửa đ t số 24, 25 t bản đồ số 10, nay là thửa đ t số 35 có diện tích 658,6m2 đ t; thửa đ t số 23 t bản đồ số 10, nay là thửa đ t số 36 có diện tích 1.058,6m2, t t cả đều thuộc t bản đồ số 89 bản đồ địa chính xã Y, nay đã đƣợc c p đổi sang Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số BG 243909 c p ngày 18/02/2013 mang tên ông Đặng Quý C.
Các thửa số 17, 18, 19, 20, 21, 27, 28 t bản đồ số 10, nay là thửa số 56 t bản đồ số 89 bản đồ địa chính xã Y, có diện tích 5.156,3m2 đã đƣợc c p đổi sang Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số BG 243910 c p ngày 18/02/2013 mang tên ông Đặng Quý C.
Các thửa số 50, 52 t bản đồ số 01 nêu trong Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số H 975856 ngày 20/02/1997 đã có sự sai sót về t bản đồ. Thực t hai thửa đ t này thuộc t bản đồ số 13 bản đồ giải thửa năm 1988, nay chuyển đổi thành thửa đ t số 109 t bản đồ số 91, diện tích 8.903,4m2, đã bị thu hồi diện tích 2.487,6m2 làm trƣ ng bắn, diện tích còn lại hiện nay là 6.415,8m2, mục đích là đ t trồng cây hàng năm, do ông Đặng Quý C quản lý, sử dụng và chƣa c p đổi Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t do th i điểm c p đổi chƣa xác định đƣợc thuộc thửa đ t nào trên bản đồ địa chính đo v năm 2010.
Ph n diện tích 400m2 đ t thổ cƣ thuộc t bản đồ số 10 nêu trong Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số H 975856 c p ngày 20/02/1997 nay là thửa đ t số 31 t bản đồ số 89 bản đồ địa chính xã Y, có diện tích 751,2m2, đã đƣợc c p đổi sang Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số BG 243908, c p ngày 18/02/2013 mang tên ông Đặng Quý C. Ph n diện tích đ t có sự thay đổi t 400m2 lên 751,2m2 là do hạn mức đ t thổ cƣ đƣợc c p năm 1997 tối đa là 400m2 nhƣ đã ghi trong Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t năm 1997, ngày 15/5/2018 Tòa án ti n hành thẩm định xác định diện tích đ t ở hiện nay gia đình ông Đặng Quý C đang quản lý, sử dụng là 751,2m2.
Các thửa đ t số 9, 10, 11, 12, 33, 34 t bản đồ số 10 thuộc Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số H 975856 c p ngày 20/02/1997 nay thuộc về xã Y1, huyện H quản lý. Theo bản đồ giải thửa năm 1988 của xã Y, huyện H có thể hiện các thửa đ t trên, nhƣng đ n năm 2003 đo đạc bản đồ địa chính xã Y1 thì các thửa đ t này đƣợc đo v bản đồ địa chính xã Y1.
Ủy ban nhân dân xã Y1, huy n H, tỉnh Lạng Sơn trình bày: Năm 2003, xã Y1 đo đạc bản đồ địa chính và lập hồ sơ đề nghị c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t theo bản đồ địa chính tại thôn S, xã Y1. Trong bảng thống ê diện tích, loại đ t, chủ sử dụng theo hiện trạng xã Y1 xác định: Thửa đ t số 56, t bản đồ 68 bản đồ địa chính xã thể hiện diện tích 1.406m2 là loại đ t Q, ph n ghi chủ sử dụng là Y xâm canh, thửa đ t chƣa quy chủ cho ai và chƣa c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cho ai, qua xác minh thì thửa đ t hiện do ông Đặng Quý C sử dụng.
Tại Công văn số 55/CV-UBND ngày 14/10/2019 Ủy ban nhân dân xã Y1 cho bi t: Qua iểm tra các loại sổ sách quản lý về đ t đai tại xã cho th y hông có tên ông Đặng Qúy H1, vợ là Nguy n Thị A đăng ý, ê hai sử dụng thửa đ t nào tại xã Y1, huyện H, tỉnh Lạng Sơn t trƣớc đ n nay.
Căn cứ bản đồ địa chính xã Y1 đƣợc đo đạc năm 2003, sổ mục ê và sổ c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t thể hiện: Thửa đ t số 41, t bản đồ số 68, diện tích 780m2 do ông Đặng Qúy S1 ê hai quản lý sử dụng t năm 2003 đ n nay và ông Đặng Qúy S1 đã đƣợc c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng thửa đ t này vào năm 2004 tại Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số AA454359. Thửa đ t số 49, t bản đồ số 68, diện tích 835m2 do ông Lƣơng Văn L ê hai quản lý sử dụng t năm 2003 và đƣợc c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t vào năm 2004. Sau đó, ông Lƣơng Văn L chuyển nhƣợng thửa đ t này cho ông Đặng Văn H. Thửa đ t số 59, t bản đồ số 68, diện tích 2.035m2 do ông Nguy n Văn N ê hai quản lý sử dụng t năm 2003 đ n năm 2004 đƣợc c p trong Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số AA454384. Thửa đ t số 89, t bản đồ số 68, diện tích 441m2 và thửa đ t số 97 t bản đồ số 68 có diện tích 625m2, hiện do ông Phạm Vũ L vợ là Nguy n Thị T1 ê hai quản lý sử dụng t năm 2003, đ n năm 2004 đƣợc c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t. Tại sổ theo d i c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t, một số thửa đ t hông ghi cụ thể số gi y chứng nhận, ngày tháng c p gi y chứng nhận và hiện Ủy ban nhân dân xã cũng hông lƣu giữ Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t của hộ gia đình, cá nhân nêu trên nên hông có để cung c p cho Tòa án theo yêu c u.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2019/DS-ST ngày 18 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đã quy t định: Áp dụng các Điều 649; 652; hoản 2, 3 Điều 653; các Điều 655; Điều 659; hoản 1, 3, 4 Điều 670 của Bộ luật Dân sự năm 1995. Các Điều 646; hoản 2, 4 Điều 650; các Điều 652; 656; 657; hoản 1, 3, 4 Điều 667 của Bộ luật Dân sự năm 2005; khoản 5 Điều 26; Điều 34; điểm a, c hoản 1 Điều 39; Điều 74; hoản 1,5 Điều 147; Điều 157; các Điều 165; 227; 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 7 Điều 27; Điều 32 của Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣ ng vụ Quốc hội quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Không ch p nhận toàn bộ yêu c u hởi iện của nguyên đơn bà Đặng Hồng P gồm yêu c u phân chia di sản th a của cụ Đặng Quý H1 và Nguy n Thị A theo pháp luật và yêu c u hủy 06 Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t của Ủy ban nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn bao gồm: Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số H 975856 c p ngày 20/02/1997 mang tên ông Đặng Quý C; các Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số BK 579179, BK 579180 c p cho hộ ông Đặng Quý C, bà Hoàng Thị Y cùng ngày 27/9/2013; các Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số BG 243908 mang tên ông Đặng Quý C, số BG 243909 mang tên hộ ông Đặng Quý C, số BG 243910 mang tên hộ ông Đặng Quý C, c p cùng ngày 18/02/2013.
2. Không ch p nhận yêu c u hởi iện độc lập về hành chính của ông Đặng Quý T yêu c u hủy Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số AM 802918 của Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Lạng Sơn c p cho cụ Nguy n Thị A ngày 16/6/2009.
3. Công nhận chúc thƣ của cụ Đặng Quý H1 lập ngày12/4/2002 và di chúc của cụ Nguy n Thị A lập ngày 09/6/2009 là hợp pháp và chia tài sản th a theo di chúc, tr ph n di chúc bị vô hiệu và ph n tài sản hông còn là di sản th a tại th i điểm cụ Đặng Quý H1 và Nguy n Thị A ch t, cụ thể: Ông Đặng Quý H đƣợc hƣởng các tài sản gồm:
Toàn bộ tài sản là nhà, đ t, tài sản trên đ t tại hu N, thị tr n H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn theo Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số C191871 c p ngày 15/11/1993 mang tên cụ Đặng Quý H1, gồm 02 thửa đ t, cụ thể: Thửa đ t số 03 diện tích 1.915m2, t bản đồ số 41 trong đó có 150m2 đ t ở và 1.765m2 đ t vƣ n) hiện nay là thửa đ t số 62 t bản đồ 07, tứ cận ti p giáp: Phía Bắc giáp đ t hộ ông Công uân C dài 70,35m; phía Nam giáp đ t hộ ông Đặng Quý T dài 80,45m; phía Tây giáp đƣ ng B dài 35,9m; phía Đông giáp đ t hộ ông Đặng Quý T dài 7m. Thửa đ t số 05 t bản đồ số 41, diện tích 400m2, là đ t Ao, tứ cận ti p giáp: Phía Bắc giáp đ t hộ ông Đặng Quý T; phía Nam giáp đ t hộ ông Phạm Ngọc X; phía Đông giáp đ t hộ ông Đặng Quý T; phía Tây giáp đ t hộ ông Đặng Quý T. Trên 02 thửa đ t có các tài sản nhƣ: 01 nhà c p 4 xây dựng năm 1982 đƣợc nâng c p sửa chữa lại vào năm 2016; tƣ ng xây gạch, mái lợp ngói đỏ, nền lát gạch hoa, khung cột nhà xà, èo hoành nghi n, cửa đi cửa sổ tr n g Đinh, sân trƣớc nhà, nhà ho, nhà tắm, tƣ ng rào, gi ng khoan, cổng sắt. Trên đ t có 35 cây Nhãn, 13 cây Đào, 01 cây S u, 03 cây oài, 03 cây Cau, 03 cây Qu t hồng bì, 08 cây Si, 04 cây Chuối, 12 cây Vải, 02 cây Táo, 01 cây Chanh, 02 cây Bƣởi, 24 cây Hoàng Đàn, 01 cây Hồng iêm, 01 cây Sƣa, 05 cây Mít, 01 cây Đào tiên.
Tài sản theo Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số AM 802918 c p ngày 16/6/2009 mang tên cụ Nguy n Thị A là thửa đ t số 26 diện tích 1.663m2 là đ t nuôi trồng thủy sản, thuộc t bản đồ số 14 thị tr n H, huyện H. Tứ cận ti p giáp: Phía Bắc giáp thửa đ t số 05; phía Nam giáp đ t hộ ông O; phía Đông giáp thửa đ t số 05; phía Tây giáp đ t hộ ông Lợi, hộ bà T, hộ ông N, hộ ông H và hộ ông Đ.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền háng cáo của các đƣơng sự và quyền yêu c u thi hành án theo quy định của pháp luật.
Trong th i hạn luật định, bà Đặng Hồng P là nguyên đơn, bà Đặng Thị Y, bà Đặng Thị H và ông Đặng Quý T là ngƣ i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn háng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2019/DS-ST ngày 18 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đề nghị hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm và giải quy t lại vụ án một cách khách quan, đúng pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ngƣ i háng cáo giữ nguyên nội dung háng cáo và trình bày:
Bà Đặng Hồng P: Chúc thƣ của cụ Đặng Quý H1 và di chúc của cụ Nguy n Thị A do ông Đặng Quý H cung c p đều là di chúc giả, hông phải đúng ý nguyện của bố mẹ. Các anh em trong gia đình đều có công sức hai phá, quản lý, tôn tạo hối tài sản của bố mẹ để lại. Do đó, bà đề nghị Hội đồng xét xử chia th a các tài sản của bố mẹ tôi để lại theo pháp luật cho bẩy anh em trong gia đình. Đối với các thửa đ t ông Đặng Quý C đã tự ý bán đi, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.
Ông Đặng Quý T: Tôi đề nghị Hội đồng xét xử chia th a các tài sản của bố mẹ tôi để lại theo pháp luật cho bẩy anh em trong gia đình. Đối với thửa đ t ao đã đƣợc c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cho cụ Nguy n Thị A, ông đề nghị đƣợc quản lý sử dụng, vì đ t ao là ông vay tiền của bà Đặng Hồng P mua với ông Nguy n Ngọc T và cũng đã đƣợc Ủy ban nhân dân thị tr n H c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t.
Bà Đặng Thị Y nh t trí với ý i n của bà Đặng Hồng P và ông Đặng Quý T đề nghị Hội đồng xét xử chia th a các tài sản của bố mẹ theo pháp luật, chia đều cho bẩy anh em trong gia đình.
Ngƣ i bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, Luật sƣ Trƣơng Quốc H trình bày: Tòa án c p sơ thẩm đã vi phạm tố tụng nhƣ sau: Bà Đặng Hồng P yêu c u hủy 06 Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t của ông Đặng Quý C nhƣng Tòa án c p sơ thẩm hông chuyển hồ sơ lên tỉnh thụ lý là vi phạm quy định tại Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Yêu c u này là n m trong phạm vi hởi iện nhƣng c p sơ thẩm cho r ng vƣợt quá yêu c u hởi iện là hông có căn cứ. Thứ hai, đối với các tài sản của ông Đặng Quý C đã bán cho ngƣ i thứ ba, họ đã đƣợc c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cho hộ gia đình. Tuy nhiên, c p sơ thẩm chỉ triệu tập cá nhân họ, hông triệu tập những ngƣ i trong hộ gia đình của họ nhƣ vậy là thi u ngƣ i tham gia tố tụng. Thứ ba, c p sơ thẩm xác định ông Vũ Thành D – Chuyên viên Phòng Tài nguyên và Môi trƣ ng huyện H, tỉnh Lạng Sơn là ngƣ i đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Lạng Sơn là vi phạm quy định tại hoản 3 Điều 60 Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Đối với yêu c u hởi iện của bà Đặng Hồng P: Phía bị đơn xu t trình bản chúc thƣ của cụ Đặng Quý H1 và di chúc của cụ Nguy n Thị A, chủ thể lập di chúc và hình thức di chúc là hông đúng quy định nên hông đủ điều iện để coi là hợp pháp.
Về chúc thƣ của cụ Đặng Quý H1: Hình thức vi phạm Nghị định 76/2000/NĐ-CP về công chức, chứng thực, chúc thƣ đƣợc vi t ngày 12/4/2002 đ n ngày 03/5/2002 mới chứng thực. Tại chúc thƣ có nội dung: Đặng Quý C cho một m nh đất theo giấy chia tài s n ngày 30/5/1993 đất cho để ở không đ c bán, không cho gì nữa tuy nhiên, gi y chia tài sản ngày 30/5/1993 hông có chính quyền địa phƣơng xác nhận. Gi y chia tài sản là thành ph n hông thể tách r i hỏi bản chúc thƣ, hi xem xét đ n chúc thƣ thì phải xem xét đ n gi y chia tài sản. Ngoài ra, hi cụ Đặng Quý H1 lập chúc thƣ, cụ Nguy n Thị A vẫn còn sống, cụ Đặng Quý H1 hông có quyền định đoạt đối với tài sản của cụ Nguy n Thị A, nhƣ vậy là vi phạm Điều 637, 649, 651 Bộ luật Dân sự 1995. Do đó, chúc thƣ của cụ Đặng Quý H1 để lại là hông có giá trị pháp lý, hông hợp pháp. Về di chúc của cụ Nguy n Thị A: Chúc thƣ của cụ Đặng Quý H1 hông có giá trị pháp lý nên di chúc của cụ Nguy n Thị A cũng hông có giá trị pháp lý về mặt nội dung. Tại th i điểm cụ Nguy n Thị A lập di chúc thì cụ Nguy n Thị A chỉ đƣợc định đoạt ½ trong hối tài sản chung. Do vậy, việc định đoạt tài sản của cụ Nguy n Thị A là vi phạm Điều 634, 646, 648 Bộ luật Dân sự năm 2005.
Tòa án c p sơ thẩm nhận định 05 Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số BD 243908; BG 243909; BG 243910; BK 579179; BK 579180 mang tên ông Đặng Quý C và bà Hoàng Thị Y là c p đúng trình tự thủ tục và đúng đối tƣợng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, nguồn gốc các thửa đ t trên là của cụ Đặng Quý H1 và cụ Nguy n Thị A, ông Đặng Quý C đứng tên các Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t trên t năm 1997 đ n 2013 là thay mặt cho gia đình; hông có văn bản nào thể hiện tài sản trên bố mẹ để lại cho ông Đặng Quý C và bà Hoàng Thị Y. Mặt hác, vợ của ông Đặng Quý C là bà Phạm Thị B, bà Hoàng Thị Y chỉ là ngƣ i làm thuê, hông có t hôn với ông Đặng Quý C nên hông phải là vợ hợp pháp của ông Đặng Quý C.
Ý i n của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tại phiên tòa phúc thẩm:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quy t vụ án tại c p phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ý phiên tòa và các đƣơng sự ch p hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đƣơng sự đã ch p hành theo đúng quy định của pháp luật.
Về quan điểm giải quy t vụ án: Trong quá trình giải quy t vụ án, các đƣơng sự đều th a nhận diện tích đ t ông Đặng Quý C đang sử dụng có nguồn gốc do bố mẹ hai phá, nhƣng hi bố mẹ còn sống đã chia cho ông Đặng Quý C sử dụng và đƣợc c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t năm 1997, một số thửa c p đổi năm 2013. Nhƣ vậy, các thửa đ t đứng tên ông Đặng Quý C đã đƣợc Ủy ban nhân dân huyện H c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t t năm 1997, trƣớc th i điểm cụ Đặng Quý H1 và cụ Nguy n Thị A ch t. Do vậy, đây hông còn là di sản th a để chia. Đồng th i, trong chúc thƣ và di chúc của bố mẹ cũng đã ghi r , nên theo Án lệ số 24/2018/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì các thửa đ t gia đình ông Đặng Quý C đƣợc chia t hi bố mẹ còn sống, đã sử dụng ổn định và c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t nên đây hông phải là di sản th a .
Đối với diện tích đ t ông Đặng Quý S, ông Nguy n Văn N, ông Lƣơng Văn L, bà Nguy n Thị T1 đang sử dụng và hai mua với ông Đặng Quý C, cụ Đặng Quý H1 và cụ Nguy n Thị A. Các thửa đ t trên năm 1997, ông Đặng Quý C đƣợc Ủy ban nhân dân huyện H c p tại Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số H 975856 c p ngày 20/02/1997 mang tên ông Đặng Quý C, t đó ông Đặng Quý C đƣợc Nhà nƣớc xác lập quyền sử dụng hợp pháp và là tài sản của ông Đặng Quý C, hông còn là tài sản, di sản của cụ Đặng Quý H1 và cụ Nguy n Thị A để chia. Đồng th i, sự chuyển dịch đ t vào trƣớc th i điểm cụ Đặng Quý H1 và cụ Nguy n Thị A ch t, do đó việc ông Đặng Quý C, hay cụ Đặng Quý H1 và cụ Nguy n Thị A chuyển nhƣợng hoặc tặng cho là do ông Đặng Quý C và bố mẹ thỏa thuận, quy t định, định đoạt.
Đối với việc bà Đặng Hồng P háng cáo cho r ng hông đƣa các thành viên trong hộ ông Nguy n Văn N tham gia tố tụng là thi u ngƣ i liên quan, th y r ng đ t của gia đình ông Nguy n Văn N nhận chuyển nhƣợng của ông Đặng Quý C, cụ Đặng Quý H1, cụ Nguy n Thị A, đƣợc c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t năm 2003, do đó hông phải là di sản th a , nên việc háng cáo hông có căn cứ ch p nhận.
Đối với chi phí xem xét thẩm định tại ch và định giá tài sản, chi phí giám định, bà Đặng Hồng P đã nộp tạm ứng 55.000.000 đồng, trong đó: Chi phí giám định là 4.000.000 đồng; chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản là 9.931.000 đồng, nhƣng trong ph n nhận định và quy t định hông nhận định, quy t định trả lại bà Đặng Hồng P số tiền còn lại là thi u sót, có căn cứ ch p nhận và sửa về ph n này.
Đối với háng cáo của ông Đặng Quý T, th y r ng thửa đ t số 26, t bản đồ số 14 theo Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t mang tên bà Nguy n Thị A, hi bà Nguy n Thị A ch t đây là di sản, hi có tranh ch p di sản th a do ngƣ i ch t để lại nên ông Đặng Quý H yêu c u giải quy t, do đó yêu c u hủy Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số AM 802918 là thuộc thẩm quyền giải quy t của Tòa án nhân dân c p huyện. Đối với diện tích đ t trên, ông Đặng Quý T đã đƣợc c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t năm 1993, tuy nhiên Ủy ban nhân dân huyện H hẳng định hông đƣợc c p đ t cho ông Đặng Quý T, Ủy ban nhân dân thị tr n tự ý ghi nội dung tại trang 4 Gi y chứng nhận là hông đúng thẩm quyền, trái quy định của Luật Đ t đai. Năm 2012, ông Đặng Quý T đã bi t việc Ủy ban nhân dân huyện H c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số AM 802918 cho cụ Nguy n Thị A, đ n tháng 7/2018 6 năm sau) ông Đặng Quý T mới hởi iện yêu c u hủy Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t nêu trên, theo quy định tại điểm a, hoản 1 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính thì đã h t th i hiệu hởi iện, nhƣng Bản án sơ thẩm hông căn cứ điểm g hoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính để đình chỉ giải quy t yêu c u này, do đó c n sửa nội dung ph n này.
T những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xử sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2019/DS-ST ngày 18/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Đơn háng cáo của bà Đặng Hồng P, bà Đặng Thị Y, bà Đặng Thị H và ông Đặng Quý T trong th i hạn luật định nên háng cáo hợp lệ.
Những ngƣ i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa đƣợc triệu tập hợp lệ l n thứ hai, họ đã có l i hai, bản tự hai hoặc văn bản ủy quyền tham gia tố tụng. Xét th y, việc vắng mặt của những ngƣ i này hông làm ảnh hƣởng đ n quyền lợi của họ trong việc giải quy t vụ án. Căn cứ hoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử ti n hành xét xử vụ án.
ét nội dung háng cáo của bà Đặng Hồng P, bà Đặng Thị Y, bà Đặng Thị H và ông Đặng Quý T, th y r ng:
Cụ Đặng Quý H1 t hôn với cụ Nguy n Thị A sinh đƣợc 08 ngƣ i con gồm: Ông Đặng Quý B sinh năm 1943 - ch t tháng 2/2018; có 03 ngƣ i con là Đặng Thị , Đặng Quý S1 và Đặng Thị M), bà Đặng Thị N sinh năm 1946 – ch t năm 1951, hông có ngƣ i con nào), bà Đặng Thị H, ông Đặng Quý C, bà Đặng Hồng P, ông Đặng Quý T, ông Đặng Quý H và bà Đặng Thị Y. Năm 2003, cụ Đặng Quý H1 ch t và năm 2010, cụ Nguy n Thị A ch t. Các đƣơng sự phía nguyên đơn cho r ng hi cụ Đặng Quý H1 và cụ Nguy n Thị A ch t hông để lại di chúc. Tuy nhiên, theo các tài liệu có trong hồ sơ, tài liệu do phía bị đơn cung c p, có bản chúc thƣ của cụ Đặng Quý H1 và bản di chúc của cụ Nguy n Thị A để lại cụ thể:
Các đƣơng sự háng cáo cho r ng hi bố mẹ ch t hông để lại di chúc và nay yêu c u chia th a theo pháp luật tài sản mà bố mẹ để lại gồm các thửa đ t tại khu N, xã Y, xã Y1, Hội đồng xét xử th y r ng:
Đ t tại khu N, thị tr n H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn gồm:
Thửa đ t số 03 diện tích 1.915m2 trong đó có 150m2 đ t ở và 1.765m2 đ t vƣ n); thửa đ t số 05 diện tích 400m2 là đ t ao, đều thuộc t bản đồ số 41, hiện nay là thửa đ t số 62 t bản đồ 07 bản đồ địa chính thị tr n H. Các thửa đ t trên đều đã đƣợc Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số C 919874 ngày 15/11/1993 mang tên ông Đặng Quý H1. Về nguồn gốc các thửa đ t trên là tài sản của cụ Đặng Quý H1 và Nguy n Thị A có trong th i ỳ hôn nhân nên xác định đây là di sản th a của các cụ để lại.
Thửa đ t số 26, t bản đồ số 14, diện tích 1.663m2 là đ t nuôi trồng thủy sản, đã đƣợc Ủy ban nhân dân huyện H c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số AM 802918 ngày 16/6/2009 cho bà Nguy n Thị A. Ông Đặng Quý T cho r ng thửa đ t trên ông đã đƣợc Ủy ban nhân dân huyện H c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t ngày 15/11/1993 mang tên ông Đặng Quốc C. Tại trang 4 Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t ghi những thay đổi sau hi c p Gi y chứng nhận có nội dung vi t tay nhƣ sau: ...UBND thị trấn căn c vào biên b n nay s di n tích ao 1.200m đã đo ông Trấn toàn quy n s dụng và nộp thu hàng năm theo luật thu ... tuy nhiên tại Công văn số 558/UBND-TNMT ngày 11/6/2019 của Ủy ban nhân dân huyện H xác định: “Ủy ban nhân dân huy n H không ghi và không xác nhận nội dung trên Giấy ch ng nhận quy n s dụng đất mang tên ông Đặng Qu c T đ c cấp năm 1993. Vi c ông T cho r ng Ủy ban nhân dân thị trấn H ghi nội dung trên đồng nghĩa v i vi c Ủy ban nhân dân huy n H đã cấp Giấy ch ng nhận quy n s dụng đất cho ông là không có căn c . Ủy ban nhân dân thị trấn t ý ghi nội dung tại trang 4 giấy ch ng nhận là không đúng thẩm quy n, trái quy định của Luật Đất đai . ét th y, Ủy ban nhân dân thị tr n hông có thẩm quyền c p đ t do đó việc ông Đặng Quý T đƣợc c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t năm 1993 là hông đúng trình tự, thủ tục. Năm 2012, ông Đặng Quý T đã bi t việc cụ Nguy n Thị A đƣợc Ủy ban nhân dân huyện H c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số AM 802918 đ n tháng 7/2018 ông Đặng Quý T mới hởi iện tại Tòa án yêu c u hủy Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số AM 802918, nhƣ vậy th i hiệu hởi iện của ông Đặng Quý T hông còn theo quy định tại điểm a, hoản 1 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính. Bản án sơ thẩm tuyên hông ch p nhận yêu c u hủy Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t của ông Đặng Quý T là hông đúng quy định, do đó c n đình chỉ giải quy t đối với ph n này. Đối với yêu c u này, ông Đặng Quý T cũng đã hởi iện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn và Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã chuyển vụ án trên về Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng giải quy t. Ông Đặng Quý T cho r ng việc nhập thành vụ án dân sự là hông đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, theo Giải đáp số 02/GĐ-TANDTC ngày 19/9/2016 của Tòa án nhân dân tối cao về một số v n đề về Tố tụng hành chính, Tố tụng dân sự thì việc Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn chuyển hồ sơ vụ án hành chính về Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng giải quy t cùng một vụ án dân sự là đúng thẩm quyền, đúng quy định của pháp luật.
Đ t thuộc xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn gồm:
Thửa đ t số 31 t bản đồ số 89, có diện tích 751,2m2 là đ t ở tại nông thôn đã đƣợc c p đổi sang Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số BG 243908 ngày 18/02/2013 mang tên hộ ông Đặng Quý C; các thửa đ t số 35,36,42,43,49 t bản đồ địa chính số 89, diện tích 4.160,5m2 đã c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số BG 243909 ngày 18/02/2013 mang tên hộ ông Đặng Quý C; thửa đ t số 56, t bản đồ địa chính số 89, diện tích 5.165,3m2 đã c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số BG 243910 ngày 18/02/2013 mang tên hộ ông Đặng Quý C. Các thửa đ t trên đều đƣợc ông Đặng Quý C ê hai c p đổi t Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số H 975856 c p ngày 20/02/1997 trong tổng diện tích 20.838m2 mang tên ông Đặng Qúy C. Nhận th y, năm 1997, Ủy ban nhân dân huyện H đã công nhận quyền sử dụng đ t của ông Đặng Quý C mà hi đó cụ Đặng Quý H1 và Nguy n Thị A vẫn còn sống nên đây xác định hông phải là di sản th a , đây là tài sản riêng của ông Đặng Quý C. Mặt hác, năm 1997, tại xã thực hiện việc c p đồng loạt, xã đã ti n hành niêm y t công hai nhƣng hông có ai thắc mắc hay hi u nại do đó hông có căn cứ để chia các thửa đ t trên theo pháp luật.
Thửa đ t số 109 t bản đồ số 91, có diện tích 8.903,4m2 hiện nay chƣa đƣợc c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cho ai tuy nhiên thửa đ t 109 trƣớc đây đƣợc gộp bởi hai thửa đ t 50 và 52 t bản đồ số 01 xã Y đã đƣợc Ủy ban nhân dân huyện H c p gi y chứng nhận tại Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số H 975856 ngày 20/02/1997 cho ông Đặng Quý C. Đối với thửa đ t này, năm 2017, Ủy ban nhân dân huyện H đã thu hồi diện tích 2.487,6m2 theo Quy t định số 6099/QĐ-UBND ngày 14/12/2017 để thực hiện bồi thƣ ng, h trợ và tái định cƣ dự án: Cải tạo, nâng c p, xây mới và bồi thƣ ng giải phóng mặt b ng Trƣ ng bắn, thao trƣ ng hu n luyện Sƣ đoàn BB3/QK1 và ngƣ i đứng ra nhận tiền bồi thƣ ng với nhà nƣớc là ông Đặng Quý C. Do đó, hông có căn cứ để cho r ng thửa đ t số 109 t bản đồ số 91 là di sản th a .
Thửa đ t số 37 t bản đồ số 89 diện tích 3338,2m2; thửa đ t số 13 t bản đồ số 91, diện tích 1602,7m2 đã đƣợc c p trong Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số BK 579179 ngày 27/9/2013 mang tên hộ ông Đặng Quý C bà Hoàng Thị Y. Thửa đ t số 14, t bản đồ 91, diện tích 3545,8m2 và thửa đ t số 79, t bản đồ 91, diện tích 969,6m2 đã đƣợc c p trong Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số BK 579180 ngày 27/9/2013 mang tên hộ ông Đặng Quý C bà Hoàng Thị Y. ét th y, các đƣơng sự cho r ng các thửa đ t trên có nguồn gốc của cụ Đặng Quý H1 và Nguy n Thị A để lại tuy nhiên trong sổ mục ê và bản đồ giải thửa năm 1988 của xã Y, trên bản đồ giải thửa hông thể hiện các thửa đ t trên đ n năm 2010 đo đạc bản đồ địa chính, các thửa đ t trên thể hiện ông Đặng Quý C là ngƣ i quản lý sử dụng thực t , hông có ai tranh ch p nên Ủy ban nhân dân huyện H đã c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cho gia đình ông Đặng Quý C, nên đây hông phải là di sản th a .
ét th y, đối với các thửa đ t trên, ông Đặng Quý C đã đƣợc Ủy ban nhân dân huyện H c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t t năm 1997, trƣớc th i điểm cụ Đặng Quý H1 và cụ Nguy n Thị A ch t, do vậy đây hông còn là di sản th a để chia. Việc c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t năm 1997 đƣợc thực hiện c p đồng loạt theo quy định hông phải c p riêng cho hộ gia đình, cá nhân nào, nhƣng cụ Đặng Quý H1 và Nguy n Thị A lại hông có ý i n hay hi u nại gì. Khi cụ Đặng Quý H1 và Nguy n Thị A ch t và trƣớc th i điểm bà Đặng Hồng P hởi iện tại Tòa án, các anh chị em trong gia đình hông có hi u nại hay hởi iện. Đồng th i, trong chúc thƣ và di chúc của bố mẹ bà Đặng Hồng P cũng đã ghi r , theo Án lệ số 24/2018/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì các thửa đ t trên gia đình ông Đặng Quý C đƣợc chia t hi bố mẹ còn sống, đã sử dụng ổn định và c p gi y chứng nhận nên coi đây hông phải là di sản th a .
Thửa đ t số 28, t bản đồ 91 diện tích 241,6m2 và thửa đ t số 19, t bản đồ 91 diện tích 262,2m2 là đ t trồng cây hàng năm hác nay chƣa đƣợc c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cho ai. Tại Công văn số 61/CV-UBND ngày 11/10/2019 của Ủy ban nhân dân xã Y cho bi t: Theo bản đồ đo đạc năm 1988 và sổ mục ê ruộng đ t năm 1990 của xã Y hông thể hiện thửa đ t này trƣớc đây do ai hai phá, quản lý. Đ n năm 2010, xã Y đo lại bản đồ địa chính và theo Sổ mục ê ruộng đ t năm 2014, hai thửa đ t này do Ủy ban nhân dân xã Y quản lý nhƣng sử dụng thực t là ông Đặng Quý C. Nhƣ vậy, hông có căn cứ nào xác định đây là di sản th a của cụ Đặng Quý H1 và Nguy n Thị A nên hông ch p nhận yêu c u chia th a .
Đ t trƣớc nay thuộc xã Y nay thuộc xã Y1, huyện H, tỉnh Lạng Sơn:
Thửa đ t 41, t bản đồ số 68, diện tích 780m2 đã đƣợc c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng thửa đ t số AA 454359 t năm 2004 cho ông Đặng Qúy S1; thửa đ t số 49, t bản đồ số 68, diện tích 835m2 do ông Lƣơng Văn L ê hai, quản lý sử dụng t năm 2003; thửa đ t số 59, t bản đồ số 68, diện tích 2035m2 đã đƣợc c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số AA 454384 vào năm 2004 cho ông Nguy n Văn N; thửa đ t số 89 t bản đồ số 68 diện tích 441m2; thửa đ t 97, t bản đồ số 68 diện tích 625m2 do ông Phạm Vũ L vợ là Nguy n Thị T1 ê hai, quản lý sử dụng t năm 2003. ét th y, đối với diện tích đ t của ông Đặng Quý S, Nguy n Văn N, Lƣơng Văn L, bà Nguy n Thị T1 đang sử dụng đều n m trong Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số H 975856 c p ngày 20/02/1997 mang tên ông Đặng Quý C, thuộc quyền sử dụng hợp pháp của riêng ông Đặng Quý C. Ông Đặng Quý C đƣợc Nhà nƣớc xác lập quyền sử dụng hợp pháp và là tài sản của ông Đặng Quý C, hông còn là tài sản, di sản của cụ Đặng Quý H1, cụ Nguy n Thị A. Đồng th i sự chuyển dịch đ t vào trƣớc th i điểm trƣớc hi các cụ ch t, do đó việc ông Đặng Quý C, hay cụ Đặng Quý H1, cụ Nguy n Thị A chuyển nhƣợng hoặc tặng cho là do ông Đặng Quý C và bố mẹ thỏa thuận, quy t định, định đoạt.
Gi y chúc thƣ của cụ Đặng Quý H1 đƣợc lập ngày 12/4/2002, do cụ vi t tại hu L, thị tr n H, huyện H với nội dung: Tôi có 04 con trai và 03 con gái, tôi vi t di chúc để lại cho các con nh sau: 1. Đặng Quý B (con trai c ) xây d ng gia đình năm 1964 ở riêng v quê, nên không có ph n; 2. Đặng Quý C chia cho tài s n trong đi u xóm L, xã Y; 3. Đặng Quý C cho một m nh đất theo giấy chia tài s n ngày 30/5/1993 đất cho để ở không đ c bán, không cho gì nữa; 4. Đặng Quý H đã có công nuôi d ỡng b mẹ đ c h ởng toàn bộ tài s n của b mẹ để lại gồm có: Nhà đất ở ngã t thuộc khu A, thị trấn H; nhà đất mua của ông T toàn bộ nhà ngói năm gian và công trình phụ; đất v n cây l u niên hai ao th cá; ba con gái không có ph n. Tôi vi t giấy này sau tôi ch t để lại cho con làm b ng khi ông bà ch t không phát tang cho v chồng con cái th ng C, không phát tang cho v chồng con cái con P . Cuối chúc thƣ có chữ ý Đặng Quý H1 và có xác nhận của Trƣởng khu N là ông Nguy n Hồng Đ) ngày 01/5/2002; xác nhận Ủy ban nhân dân huyện H là ông Nguy n Mạnh H) ngày 03/5/2002.
Gi y di chúc của cụ Nguy n Thị A đƣợc lập ngày 09/6/2009 do anh Đặng Quý T1 vi t với nội dung: “Tôi là Nguy n Thị A … do tuổi đã cao nên tôi giao cho cháu nội tôi là Đặng Quý T1 … vi t b n chúc th thay tôi … ngày 12/4/2002, chồng tôi là Đặng Quý H1 … đã để lại di chúc và đ c Ủy ban nhân dân thị trấn H ch ng th c ngày 03/5/2002 và tôi cũng đồng ý v i di nguy n của chồng tôi tr c khi mất…3. Đặng Quý C: Không cho 01 m nh đất theo giấy chia tài s n ngày 30/5/1993, đất này cho cháu Đ đ c ở ch không đ c bán, ngoài ra tôi không cho gì nữa… Tôi vi t giấy này để lại tài s n cho các con sau khi tôi ch t . Cuối chúc thƣ có điểm chỉ của bà Nguy n Thị A, chữ ý của ngƣ i làm chứng anh Đặng Quý T1, chữ ý của ngƣ i làm chứng ông Nguy n Văn H, ông Nông Đức L, ông Lê Văn Đ, ông Nguy n Hồng Đ và chị Nguy n Thị N, có xác nhận của Trƣởng khu N là ông Nguy n Hồng Đức) ngày 09/6/2009; xác nhận Ủy ban nhân dân huyện H là ông Ninh Ngọc T) ngày 02/7/2009. Gi y di chúc này do ông Đặng Quý H cung c p cho Tòa án. Quá trình giải quy t vụ án, ngày 16/4/2018, bà Đặng Hồng P có cung c p cho Tòa án một gi y di chúc của cụ Nguy n Thị A, các nội dung đều nhƣ trên tuy nhiên tại mục 3 ghi: Đặng Quý C: Cho 01 m nh đất theo giấy chia tài s n ngày 30/5/1993, đất này chỉ đ c ở ch không đ c bán, ngoài ra tôi không cho gì nữa bút lục 241).
ét th y, chúc thƣ của cụ Đặng Quý H1 và di chúc của cụ Nguy n Thị A đ y đủ các nội dung quy định tại Điều 630, 631 Bộ luật Dân sự năm 2015, nội dung của di chúc hông vi phạm điều c m của luật, hông trái với đạo đức xã hội. Mặt hác, nội dung của hai di chúc đều giống nhau chỉ hác nhau tại mục 3, di chúc đều thể hiện đúng ý nguyện của các cụ do vậy c n ghi nhận các nội dung của bản di chúc. Tuy nhiên, tại mục 3 có sự thay đổi và nội dung thay đổi hông đƣợc Ủy ban nhân dân xã xác nhận về v n đề này nên theo quy định của pháp luật ph n thay đổi này là vô hiệu. Phía ngƣ i bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn cho r ng cụ Đặng Quý H1, cụ Nguy n Thị A chỉ có quyền định đoạt đối với ½ tài sản trong hối tài sản chung tuy nhiên tại th i điểm các cụ Đặng Quý H1, cụ Nguy n Thị A ch t, hông ai có ý i n gì về việc này và việc định đoạt là đúng ý nguyện của các cụ nên c n ghi nhận các nội dung tại chúc thƣ và di chúc là hợp pháp. Theo đó, các thửa đ t tại khu N c n tuyên cho ông Đặng Quý H đƣợc quyền quản lý sử dụng là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật.
T những phân tích nêu trên, xét th y hông có căn cứ để ch p nhận háng cáo của bà Đặng Hồng P, bà Đặng Thị Y, bà Đặng Thị H và ông Đặng Quý T đối với Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.
Tại phiên tòa, ngƣ i bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn cho r ng trong hồ sơ thi u các bút lục 359, 360, 361, 399, 531, 532, 561, 711, 915, 994 đối chi u theo bảng ê hồ sơ các tài liệu trên r t quan trọng nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét. Th y r ng, các bút lục 399, 711, 915, 994 trong bảng ê đều thể hiện hông có những bút lục này do trong quá trình đánh số bút lục có sự sai sót. Còn các bút lục 359, 360, 361, 531, 532, 561 iểm tra đã có trong hồ sơ, hông có việc thi u các bút lục trên.
Về chi phí xem xét thẩm định tại ch và định giá tài sản:
Ngày 07/3/2018, bà Đặng Hồng P đã có đơn đề nghị Tòa án đi xem xét thẩm định tại ch và định giá tài sản. Tòa án thông báo cho bà Đặng Hồng P nộp số tiền tạm ứng chi phí thẩm định là 55.000.000 đồng bút lục 254) tuy nhiên đ n ngày 10/01/2019 tại gi y giao trả một ph n tiền chi phí ti n hành tố tụng, Tòa án đã trả lại cho bà Đặng Hồng P số tiền 30.000.000 đồng bút lục 674b). Ngày 15 và 16/5/2018, Hội đồng ti n hành chi phí xem xét thẩm định tại ch và định giá tài sản h t 9.931.000 đồng; số tiền còn th a là 15.069.000 đồng, Tòa án đã thông báo cho bà Đặng Hồng P đ n nhận số tiền trên tuy nhiên bà hông đ n nhận và cho r ng Thẩm phán sơ thẩm thực hiện chi phí xem xét thẩm định hông đúng. ét th y, căn cứ vào danh sách chi tiền của Hội đồng ngày 15 và 16/5/2018, các hoản chi thuê xe, nƣớc uống, tiền bồi dƣỡng cho cán bộ là phù hợp, đúng quy định của pháp luật. Do yêu c u hởi iện của bà Đặng Hồng P hông đƣợc Tòa án ch p nhận nên bà phải chịu 9.931.000 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại ch và định giá tài sản. C p sơ thẩm đã nhận định nội dung này nhƣng hông tuyên tại ph n Quy t định của Bản án là có thi u sót, c n rút inh nghiệm. Đối với số tiền 15.069.000 đồng, tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đề nghị bà Đặng Hồng P nhận lại số tiền trên nhƣng bà Đặng Hồng P hông nhận do đó Tòa án c p phúc thẩm s chuyển số tiền trên về Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn để lƣu giữ theo quy định, bà Đặng Hồng P s có trách nhiệm nhận lại số tiền 15.069.000 đồng tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.
Ngày 24/6/2019, ông Đặng Quý H đã có đơn đề nghị Tòa án đi xem xét thẩm định tại ch và định giá tài sản bổ sung. Tòa án thông báo cho ông Đặng Quý H nộp số tiền tạm ứng chi phí thẩm định là 10.580.000 đồng. Ngày 05 và 23/7/2019, Hội đồng ti n hành chi phí xem xét thẩm định tại ch và định giá tài sản h t 10.580.000 đồng. Đối với số tiền này, ông Đặng Quý H tự nguyện chi và hông yêu c u Tòa án giải quy t nên Hội đồng xét xử hông xem xét.
Đối với số tiền chi phí giám định h t 4.000.000 đồng, ông Đặng Qúy H tự nguyện chi và hông yêu c u Tòa án giải quy t nên Hội đồng xét xử hông xem xét.
Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên c n ch p nhận; đề nghị của ngƣ i bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn đơn hông phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên hông ch p nhận
Về án phí sơ thẩm: Theo quy định tại hoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; hoản 1 Điều 26 Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣ ng vụ Quốc hội hóa 14 quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí, nội dung hởi iện của nguyên đơn bà Đặng Hồng P hông đƣợc ch p nhận nên bà Đặng Hồng P phải chịu án phí sơ thẩm tuy nhiên bà Đặng Hồng P là ngƣ i cao tuổi và đã có đơn xin mi n án phí nên bà Đặng Hồng P hông phải chịu án phí sơ thẩm. Hoàn trả lại cho bà Đặng Hồng P số tiền 12.800.000 đồng mƣ i hai triệu tám trăm nghìn đồng) theo các Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2012/04596 ngày 07/12/2017 và AA/2015/0001007 ngày 21/01/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn. Ông Đặng Quý H hông phải chịu án phí dân sự sơ thẩm vì tài sản ông Đặng Quý H đã đƣợc định đoạt mà bố mẹ để lại hông phải chia theo pháp luật. C p sơ thẩm buộc ông Đặng Quý H phải chịu 112.673.866 đồng là hông đúng quy định của pháp luật.
Về án phí phúc thẩm: Do sửa Bản sơ thẩm nên bà Đặng Hồng P, bà Đặng Thị Y, bà Đặng Thị H và ông Đặng Quý T hông phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, hoàn trả lại số tiền 300.000 đồng mà các đƣơng sự đã nộp tạm ứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.
Các quy t định hác của Bản án sơ thẩm hông có háng cáo, háng nghị có hiệu lực pháp luật ể t ngày h t th i hạn háng cáo, háng nghị.
Vì các l trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào hoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự; hông ch p nhận háng cáo của bà Đặng Hồng P, bà Đặng Thị Y, bà Đặng Thị H và ông Đặng Quý T; sửa nội dung của Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2019/DS-ST ngày 18/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn về ph n chi phí tố tụng và án phí, cụ thể:
Căn cứ Điều 649; 652; hoản 2, 3 Điều 653; các Điều 655; Điều 659; hoản 1, 3, 4 Điều 670 của Bộ luật Dân sự năm 1995. Các Điều 646; hoản 2, 4 Điều 650; các Điều 652; 656; 657; hoản 1, 3, 4 Điều 667 của Bộ luật Dân sự năm 2005; khoản 5 Điều 26; Điều 34; điểm a, c hoản 1 Điều 39; Điều 74; hoản 1,5 Điều 147; Điều 157; các Điều 165; 227; 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a, khoản 1 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính; khoản 1 Điều 26 Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣ ng vụ Quốc hội hóa 14 quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Không ch p nhận toàn bộ yêu c u hởi iện của nguyên đơn bà Đặng Hồng P gồm yêu c u phân chia di sản th a của cụ Đặng Quý H1 và Nguy n Thị A theo pháp luật và yêu c u hủy 06 Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t của Ủy ban nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn bao gồm: Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số H 975856 c p ngày 20/02/1997 mang tên ông Đặng Quý C; các Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số BK 579179, số BK 579180 c p cho hộ ông Đặng Quý C bà Hoàng Thị Y cùng ngày 27/9/2013; các Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số BG 243908 mang tên ông Đặng Quý C, số BG 243909 mang tên hộ ông Đặng Quý C, số BG 243910 mang tên hộ ông Đặng Quý C, c p cùng ngày 18/02/2013.
2. Chúc thƣ của cụ Đặng Quý H1 lập ngày 12/4/2002 và di chúc của cụ Nguy n Thị A lập ngày 09/6/2009 là hợp pháp và chia tài sản th a theo di chúc, tr ph n di chúc bị vô hiệu và ph n tài sản hông còn là di sản th a tại th i điểm cụ Đặng Quý H1 và Nguy n Thị A ch t. Cụ thể: Ông Đặng Quý H đã đƣợc hƣởng và sở hữu quản lý các tài sản gồm:
Toàn bộ tài sản là nhà, đ t, tài sản trên đ t tại hu N, thị tr n H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn theo Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số C 191871 c p ngày 15/11/1993 mang tên cụ Đặng Quý H1, gồm 02 thửa đ t, cụ thể:
- Thửa đ t số 03 diện tích 1.915m2, t bản đồ số 41 trong đó có 150m2 đ t ở và 1.765m2 đ t vƣ n) hiện nay là thửa đ t số 62 t bản đồ 07, tứ cận ti p giáp:
+ Phía Bắc giáp đ t hộ ông Công uân C dài 70,35m;
+ Phía Nam giáp đ t hộ ông Đặng Quý T dài 80,45m
+ Phía Tây giáp đƣ ng B dài 35,9m
+ Phía Đông giáp đ t hộ ông Đặng Quý T dài 7m.
- Thửa đ t số 05 t bản đồ số 41, diện tích 400m2, là đ t Ao, tứ cận ti p giáp:
+ Phía Bắc giáp đ t hộ ông Đặng Quý T
+ Phía Nam giáp đ t hộ ông Phạm Ngọc X
+ Phía Đông giáp đ t hộ ông Đặng Quý T
+ Phía Tây giáp đ t hộ ông Đặng Quý T.
Trên 02 thửa đ t có các tài sản nhƣ: 01 nhà c p 4 xây dựng năm 1982 đƣợc nâng c p sửa chữa lại vào năm 2016; tƣ ng xây gạch, mái lợp ngói đỏ, nền lát gạch hoa, khung cột nhà xà, èo hoành nghi n, cửa đi cửa sổ tr n g Đinh, sân trƣớc nhà, nhà ho, nhà tắm, tƣ ng rào, gi ng khoan, cổng sắt. Trên đ t có 35 cây Nhãn, 13 cây Đào, 01 cây S u, 03 cây oài, 03 cây Cau, 03 cây Qu t hồng bì, 08 cây Si, 04 cây Chuối, 12 cây Vải, 02 cây Táo, 01 cây Chanh, 02 cây Bƣởi, 24 cây Hoàng Đàn, 01 cây Hồng iêm, 01 cây Sƣa, 05 cây Mít, 01 cây Đào tiên.
- Thửa đ t số 26, t bản đồ số 14 thị tr n H, huyện H diện tích 1.663m2 là đ t nuôi trồng thủy sản, đã đƣợc c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số AM 802918 ngày 16/6/2009 mang tên cụ Nguy n Thị A. Tứ cận ti p giáp:
+ Phía Bắc giáp thửa đ t số 05
+ Phía Nam giáp đ t hộ ông O
+ Phía Đông giáp thửa đ t số 05
+ Phía Tây giáp đ t hộ ông L, hộ bà T, hộ ông N, hộ ông H và hộ ông Đ.
3. Đình chỉ giải quy t yêu c u của ông Đặng Quý T đề nghị hủy Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số AM 802918 đối với thửa đ t số 26 t bản đồ 14 mang tên bà Nguy n Thị A.
4. Về chi phí tố tụng
Bà Đặng Hồng P phải chịu 9.931.000 đồng chín triệu chín trăm ba mƣơi một nghìn đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại ch và định giá tài sản. ác nhận bà Đặng Hồng P đã nộp 25.000.000 đồng nay còn th a số tiền 15.069.000 đồng, Tòa án c p phúc thẩm s chuyển số tiền trên về Chi cục Thi hành án Dân sự huyện H, tỉnh Lạng Sơn để lƣu giữ theo quy định. Bà Đặng Hồng P đƣợc nhận lại số tiền 15.069.000 đồng mƣ i năm triệu hông trăm sáu mƣơi chín nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
5. Về án phí
5.1. Về án phí sơ thẩm
Bà Đặng Hồng P hông phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho bà Đặng Hồng P số tiền 12.800.000 đồng mƣ i hai triệu tám trăm nghìn đồng) theo các Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2012/04596 ngày 07/12/2017 và AA/2015/0001007 ngày 21/01/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
Ông Đặng Quý H hông phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
5.2. Về án phí phúc thẩm
Bà Đặng Hồng P, bà Đặng Thị Y, bà Đặng Thị H và ông Đặng Quý T hông phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, hoàn trả lại số tiền 300.000 đồng cho bà Đặng Hồng P, bà Đặng Thị Y, bà Đặng Thị H và ông Đặng Quý T theo các Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2016/0000182 ngày 20/12/2019; AA/2016/0000191 ngày 27/12/2019; AA/2016/0000193 ngày 27/12/2019; AA/2016/0000192 ngày 27/12/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Lạng Sơn
6. Các quy t định hác của Bản án sơ thẩm hông có háng cáo, háng nghị có hiệu lực pháp luật kể t ngày h t th i hạn háng cáo, háng nghị.
Trƣ ng hợp Bản án đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣ i đƣợc thi hành án dân sự, ngƣ i phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng ch thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; th i hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể t ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TANDCC tại Hà Nội; - VKSNDCC tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Phòng KTNV& THA; - TAND huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn; - CCTHADS huyện Hữu Lũng, T.Lạng Sơn; - Các đƣơng sự; ngƣ i BVQL của đƣơng sự; - Lƣu: Hồ sơ, HCTP, Tòa Dân sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lộc Sơn Thái |