- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Tuyên bố bị cáo Hà Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2019/HSST Ngày: 23/8/2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN – TỈNH BẮC KẠN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Dương.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đoàn Thị Nhâm.
Bà Hoàng Thị Thu Hiền.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thoan – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Mai Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2019, tại hội trường xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 39/2019/HSST ngày 17/7/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:
Hà Văn H (tên gọi khác: Không), sinh ngày 19/02/1980; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Kh, xã N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; con ông Hà Văn Ch (đã chết) và bà Nông Thị Th; có vợ là Đặng Thị H (đã ly hôn) và 01 con (sinh năm 2009); tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/3/2019 đến ngày 28/3/2019 được tại ngoại. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Thanh Tr, sinh năm 1969.
Trú tại: Tổ 9A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 17 giờ 40 phút ngày 19/3/2019, tại khu vực thôn Kh, xã N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, tổ công tác Công an thành phố B bắt quả tang Hà Văn H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy khi điều khiển xe môtô biển kiểm soát 97F2 – 97xx chở Nguyễn Thanh Tr.
Qua kiểm tra tổ công tác thu giữ của Hà Văn H: 01 (một) túi nilon, bên trong có 04 (bốn) gói nhựa màu trắng được bịt kín hai đầu, trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng, niêm phong vào phong bì H1 tại túi áo khoác bên phải; 02 (hai) gói nhựa màu trắng, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng, niêm phong vào phong bì H2 tại túi áo khoác bên trái; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu đỏ đen, đã qua sử dụng, bên trong có lắp 02 sim viettel tại túi áo khoác bên phải; số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) tại túi áo khoác bên trái; 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Yamaha màu vàng đã qua sử dụng biển kiểm soát 97F2 – 97xx. Thu giữ của Nguyễn Thanh Tr: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung vỏ màu ghi đã qua sử dụng, bên trong có lắp 01 sim viettel.
Hồi 18 giờ 30 phút cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Hà Văn H tại thôn Kh, xã N, thành phố Bắc Kạn. Kết quả khám xét đã thu giữ: 01 (một) ống nhựa màu trắng được dán kín hai đầu, bên trong chứa chất bột màu trắng, niêm phong vào phong bì C1 trong chiếc túi nilon màu xanh treo trên tường buồng ngủ của Hoàng; 10 (mười) ống nhựa màu trắng được dán kín hai đầu, bên trong mỗi ống đều chứa chất bột màu trắng, niêm phong vào phong bì C2 trong chiếc dép để dưới gầm giường tại buồng ngủ của Hoàng.
Hà Văn H khai nhận: 06 gói nhựa chứa chất bột màu trắng bị cơ quan điều tra thu giữ trong quá trình bắt quả tang và 11 gói nhựa chứa chất bột màu trắng bị cơ quan điều tra thu giữ trong quá trình khám xét nhà H là ma túy loại Heroine của H mua về tàng trữ với mục đích để sử dụng dần cho bản thân. Việc tàng trữ ma túy trên người và tại nhà H không nói cho ai biết.
Về nguồn gốc số ma túy H khai: Khoảng 12 giờ ngày 19/3/2019, H một mình bắt xe buýt đi từ nhà đến Bến xe khách tỉnh Bắc Kạn thuộc tổ 9B, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây H đã gặp và mua trực tiếp của một người đàn ông không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể 2.600.000đ (hai triệu sáu trăm nghìn đồng) ma túy loại Heroine thì được người này đưa cho 18 (mười tám) gói ma túy. Sau khi mua được ma túy, H đem số ma túy trên về nhà và đã sử dụng hết 01 gói; cất giấu 01 gói trong chiếc túi nilon màu xanh và treo trên tường buồng ngủ; cất giấu 10 gói trong chiếc dép để dưới gầm giường buồng ngủ của H, còn 06 gói H cất giấu trong túi áo khoác đang mặc trên người. Đến khoảng 17 giờ 40 phút ngày 19/3/2019, H điều khiển xe môtô biển kiểm soát 97F2 – 97xx từ nhà để đi mua xổ số, khi vừa đi ra khỏi nhà thì gặp Nguyễn Thanh Tr đi xe đạp đến nên H đã rủ Tr đi mua xổ số cùng thì Tr đồng ý và để xe đạp cạnh đường lên ngồi phía sau xe của H, H điều khiển xe chở Tr đi được một đoạn thì bị tổ công tác Công an thành phố B bắt quả tang và thu giữ 06 gói ma túy giấu tại túi áo khoác H đang mặc cùng các tài sản khác.
Nguyễn Thanh Tr khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 19/3/2019, Tr đi xe đạp từ nhà tại tổ 9A, phường Đ, thành phố Bắc Kạn đến nhà Hà Văn H tại thôn Kh, xã N, thành phố B để rủ H đi làm cùng. Khi đến gần nhà H thì Tr gặp H đi xe máy ra và được H rủ đi mua xổ số cùng nên đồng ý, Tr để xe đạp cạnh đường rồi lên ngồi phía sau xe của H, H điều khiển xe chở Tr đi được một đoạn thì bị tổ công tác Công an thành phố Bắc Kạn kiểm tra. Khi Công an kiểm tra Tr mới biết H tàng trữ ma túy trên người. Việc H tàng trữ trái phép chất ma túy thì Tr không biết.
Tiến hành cân riêng số chất bột màu trắng thu giữ của Hà Văn H, cụ thể:
Số chất bột màu trắng có trong phong bì H1 có khối lượng là 0,16g (không phẩy mười sáu gam), niêm phong vào phong bì A1, phong bì bao gói cũ niêm phong vào phong bì M1;
Số chất bột màu trắng trong phong bì H2 có khối lượng là 0,07g (không phẩy không bảy gam), niêm phong vào phong bì A2, phong bì bao gói cũ niêm phong vào phong bì M2;
Số chất bột màu trắng trong phong bì C1 có khối lượng là 0,18g (không phẩy mười tám gam), niêm phong vào phong bì A3, phong bì bao gói cũ niêm phong vào phong bì M3;
Số chất bột màu trắng trong phong bì C2 có khối lượng là 2,02g (hai phẩy không hai gam), niêm phong vào phong bì A4, phong bì bao gói cũ niêm phong vào phong bì M4.
Tại bản kết luận giám định số 60 ngày 26/3/2019 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận:
Mẫu chất bột màu trắng có trong các phong bì A1 gửi đến giám định là ma túy, loại heroine có khối lượng là 0,160 gam.
Mẫu chất bột màu trắng có trong các phong bì A2 gửi đến giám định là ma túy, loại heroine có khối lượng là 0,070 gam;
Mẫu chất bột màu trắng có trong các phong bì A3 gửi đến giám định là ma túy, loại heroine có khối lượng là 0,180 gam;
Mẫu chất bột màu trắng có trong các phong bì A4 gửi đến giám định là ma túy, loại heroine có khối lượng là 2,020 gam.
Như vậy, tổng khối lượng ma túy Hà Văn H tàng trữ là 2,43 gam (hai phẩy bốn ba gam).
Tại bản cáo trạng số 34/CT-VKSTPBK ngày 15/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố đối với Hà Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Điều luật có nội dung:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
......
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
......
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Tại phiên tòa:
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Hà Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù.
Hình phạt bổ sung đề nghị không áp dụng.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì kí hiệu T60; 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì kí hiệu M1; 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì kí hiệu M2; 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì kí hiệu M3; 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì kí hiệu M4; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIETTEL, vỏ màu đỏ đen, đã qua sử dụng bên trong có 02 (hai) sim số thuê bao số 0332.803.xxx và 0369.884.xxx có số IMEI1: 354585090259682 và số IMEI2: 354585090259690.
- Tịch thu hóa giá, sung quỹ Nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, màu vàng, đã qua sử dụng, biển kiểm soát 97F2 – 97xx, số máy 5VD109981 và số khung 5VD13YA009981 cùng 01 (một) chìa khóa xe.
- Tạm giữ số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
* Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo là không oan, đúng người, đúng tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi bị truy tố của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Hà Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo thống nhất với các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có cơ sở khẳng định:
Hồi 17 giờ 40 phút ngày 19/3/2019, tại khu vực thôn Kh, xã N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, tổ công tác Công an thành phố B bắt quả tang Hà Văn H có hành vi tàng trữ trái phép 0,23gam ma túy loại Heroin. Qua khám xét nhà ở của H, Cơ quan điều tra đã thu giữ của H 2,20 gam ma túy loại Heroin. Tổng khối lượng ma túy Hà Văn H tàng trữ là 2,43 gam (hai phẩy bốn ba gam) loại Heroin với mục đích để sử dụng cho bản thân.
Hành vi nêu trên của bị cáo Hà Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do vậy, việc truy tố, xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương, vì vậy cần phải xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, có bố đẻ là ông Hà Văn Ch được tặng thưởng Huân chương kháng chiến nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
* Về hình phạt bổ sung: Bị cáo nghiện chất ma túy, không có tài sản, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung "Phạt tiền” theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- 01 (một) điện thoại Samsung vỏ màu ghi đã qua sử dụng, bên trong có lắp 01 sim viettel. Quá trình điều tra đã làm rõ chiếc điện thoại là tài sản của anh Nguyễn Thanh Tr, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Thanh Tr là đúng quy định của pháp luật.
- 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì kí hiệu T60 và dòng chữ “ Vụ: Hà Văn H (1980) tàng trữ trái phép chất ma túy”. Mặt sau phong bì có 05 (năm) chữ ký không đọc được và 02 (hai) dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn; 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì kí hiệu M1 và dòng chữ “Phong bì và ống nhựa trong phong bì H1 thu giữ tại túi áo khoác bên trong bên phải của Hà Văn H lưu hồ sơ vụ án”. Mặt sau phong bi có 02 (hai) dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Kạn, có 07 (bảy) chữ ký không đọc được, 01 (một) dòng chữ Hà Văn H, 01 (một) dòng chữ Nguyễn Thanh Tr, 01 (một) chữ H. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn; 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì kí hiệu M2 và dòng chữ “Phong bì và ống nhựa thu giữ tại túi áo khoác bên trong bên trái của Hà Văn H lưu hồ sơ vụ án”. Mặt sau phong bi có 02 (hai) dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Kạn, có 07 (bảy) chữ ký không đọc được, 01 (một) dòng chữ Hà Văn H, 01 (một) dòng chữ Nguyễn Thanh Tr, 01 (một) chữ H. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn; 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì kí hiệu M3 và dòng chữ “Phong bì và ống nhựa thu giữ tại bên trong túi nilon màu xanh treo trên tường trong buồng ngủ bên trái của Hà Văn H lưu hồ sơ vụ án”. Mặt sau phong bi có 02 (hai) dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Kạn, có 06 (sáu) chữ ký không đọc được, 01 (một) dòng chữ Hà Văn H, 01 (một) chữ H. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn; 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì kí hiệu M4 và dòng chữ “Phong bì và ống nhựa thu giữ tại bên trong chiếc dép dưới gầm giường trong buồng ngủ bên trái của Hà Văn H lưu hồ sơ vụ án”. Mặt sau phong bi có 02 (hai) dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Kạn, có 06 (sáu) chữ ký không đọc được, 01 (Một) dòng chữ Hà Văn H, 01 (một) chữ H. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn. Tất cả không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIETTEL, vỏ màu đỏ đen, đã qua sử dụng. Bên trong có 02 (hai) sim số thuê bao số 0332.803.xxx và 0369.884.xxx có số IMEI1: 354585090259682 và số IMEI2: 354585090259690 là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo. Tại phiên tòa bị cáo có ý kiến không lấy lại chiếc điện thoại trên do không còn giá trị nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, màu vàng, đã qua sử dụng, biển kiểm soát 97F2 – 97xx. Số máy 5VD109981 và số khung 5VD13YA009981 cùng 01 (một) chìa khóa xe là tài sản của bị cáo sử dụng khi bị bắt quả tang thực hiện hành vi phạm tội. Tại phiên tòa bị cáo có ý kiến không lấy lại nên cần tịch thu hóa giá, sung quỹ Nhà nước.
- Số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng), qua điều tra đã làm rõ là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo, tuy nhiên cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
* Trong vụ án này còn có người đàn ông đã bán ma túy cho Hà Văn H, do H không biết họ tên, địa chỉ cụ thể nên cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xác minh, làm rõ.
* Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
* Tuyên bố bị cáo Hà Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
* Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Hà Văn H 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 19/3/2019 đến ngày 28/3/2019.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì kí hiệu T60 và dòng chữ “ Vụ: Hà Văn H (1980) tàng trữ trái phép chất ma túy”. Mặt sau phong bì có 05 (năm) chữ ký không đọc được và 02 (hai) dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn; 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì kí hiệu M1 và dòng chữ “Phong bì và ống nhựa trong phong bì H1 thu giữ tại túi áo khoác bên trong bên phải của Hà Văn H lưu hồ sơ vụ án”. Mặt sau phong bi có 02 (hai) dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Kạn, có 07 (bảy) chữ ký không đọc được, 01 (một) dòng chữ Hà Văn H, 01 (một) dòng chữ Nguyễn Thanh Tr, 01 (một) chữ H. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn; 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì kí hiệu M2 và dòng chữ “Phong bì và ống nhựa thu giữ tại túi áo khoác bên trong bên trái của Hà Văn H lưu hồ sơ vụ án”. Mặt sau phong bi có 02 (hai) dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Kạn, có 07 (bảy) chữ ký không đọc được, 01 (một) dòng chữ Hà Văn H, 01 (một) dòng chữ Nguyễn Thanh Tr, 01 (một) chữ H. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn; 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì kí hiệu M3 và dòng chữ “Phong bì và ống nhựa thu giữ tại bên trong túi nilon màu xanh treo trên tường trong buồng ngủ bên trái của Hà Văn H lưu hồ sơ vụ án”. Mặt sau phong bi có 02 (hai) dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Kạn, có 06 (sáu) chữ ký không đọc được, 01 (một) dòng chữ Hà Văn H, 01 (một) chữ H. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn; 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì kí hiệu M4 và dòng chữ “Phong bì và ống nhựa thu giữ tại bên trong chiếc dép dưới gầm giường trong buồng ngủ bên trái của Hà Văn H lưu hồ sơ vụ án”. Mặt sau phong bi có 02 (hai) dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Kạn, có 06 (sáu) chữ ký không đọc được, 01 (Một) dòng chữ Hà Văn H, 01 (một) chữ H. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIETTEL, vỏ màu đỏ đen, đã qua sử dụng. Bên trong có 02 (hai) sim số thuê bao số 0332.803.xxx và 0369.884.xxx có số IMEI1: 354585090259682 và số IMEI2: 354585090259690.
- Tịch thu hóa giá, sung quỹ Nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, màu vàng, đã qua sử dụng, biển kiểm soát 97F2 – 97xx. Số máy 5VD109981 và số khung 5VD13YA009981 cùng 01 (một) chìa khóa xe.
- Tạm giữ số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận giữa Công an thành phố Bắc Kạn và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn.
* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Hà Văn H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh ; - VKSND thành phố; - Cơ quan CSĐT Công an thành phố; - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố; - Chi cục THADS thành phố; - Sở tư pháp; - Bị cáo; - Người liên quan; - Lưu hồ sơ; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Dƣơng |