- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2019/HSST Ngày: 26-8-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG - TỈNH HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Lũng.
Các hội thẩm nhân dân:
1- Ông: Trần Trung Dũng.
2- Ông: Vũ Quang Nguyên.
Thư ký phiên toà: Ông Trần Ngọc Huy - Thư ký Tòa án.
Đại diện VKSND huyện tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yến - KSV.
Ngày 26 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Động, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2019/HSST ngày 06 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/HSST ngày 14 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:
* Nguyễn Văn S, sinh năm 1997; Sinh trú quán: Thôn H, xã S, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông: Nguyễn Văn S; con bà: Trương Thị K; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04/6/2019 đến ngày 10/6/2019 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương. (Có mặt)
* Những người làm chứng:
- Anh Ngô Văn N, sinh năm 1977. (Vắng mặt)
- Anh Nguyễn Xuân Q, sinh năm 1980. (Vắng mặt)
Đều trú tại: Thôn L, thị trấn L, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 04/6/2019 tại khu vực trước cửa quán bia Hải Dương ở thôn L, thị trấn L, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Công an huyện Kim Động đã phát hiện, bắt quả tang đối tượng Nguyễn Văn S, sinh năm 1997 ở thôn H, xã S, huyện K, tỉnh Hưng Yên có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy đã thu giữ vật chứng của S tại túi quần đùi bên trái 01 gói ni lon màu trắng bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng đục, S khai nhận là ma túy đá. Công an huyện Kim Động đã tiến hành lập biên bản quản lý và niêm phong gói ni lon theo quy định của pháp luật.
Tại bản kết luận giám định số: 348/PC09 ngày 10/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên đã kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng gửi giám định có trọng lượng là 0,708 gam là ma túy, là loại Methamphetamine.
Trong quá trình điều tra, Nguyễn Văn S đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Đối với người thanh niên đã bán ma túy cho S, do S khai không biết tên, tuổi và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Động không có căn cứ xác minh để xử lý.
Vật chứng của vụ án: 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật hoàn trả sau giám định, bên trong có 0,602 gam ma túy Methamphetamine.
Tại phiên toà hôm nay:
- Bị cáo thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội do mình gây ra. Bị cáo có nhân thân tốt, từ trước đến nay chưa có tiền án tiền sự gì, bản thân bị cáo có thời gian tham gia trong quân đội sau xuất ngũ về địa phương. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình và hòa nhập cộng đồng.
Cáo trạng số: 37/CT-VKSKĐ ngày 05/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận.
Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Hành vi phạm tội của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Văn S về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
* Xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn S từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, được trừ 06 ngày tạm giữ. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
* Vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật sau giám định. (Đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/8/2019 giữa Công an huyện và Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Động).
* Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công ăn việc làm và không có thu nhập ổn định nên đề nghị xét miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình và hòa nhập cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Kim Động, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và những người làm chứng, biên bản khám xét, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ ngày 04/6/2019 tại khu vực trước cửa quán bia Hải Dương ở thôn L, thị trấn L, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Nguyễn Văn S đã có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy có trọng lượng là 0,708 gam ma túy đá loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Ma túy là chất gây nghiện vô cùng nguy hiểm, ma túy không chỉ làm suy kiệt kinh tế và sức lao động mà nó còn có thể làm hạn chế hoặc mất đi khả năng điều khiển hành vi của con người, là nguyên nhân dẫn đến lây lan căn bệnh thế kỷ HIV-AIDS, gây băng hoại đạo đức xã hội và là nguyên nhân nảy sinh các loại tội phạm khác, làm đổ vỡ hạnh phúc gia đình, gây mất trật tự trị an trong xã hội, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải lên án mạnh mẽ. Do vậy để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và có ích cho gia đình và xã hội cần phải tuyên phạt bị cáo một hình phạt nhất định tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Tuy nhiên khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cân nhắc đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo để tuyên một hình phạt tương xứng phù hợp pháp luật và có tính răn đe giáo dục đối với bị cáo và có tính phòng ngừa chung.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, từ trước đến nay chưa có tiền án tiền sự gì, bản thân bị cáo có thời gian tham gia trong quân đội sau xuất ngũ về địa phương. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác mà bị cáo được hưởng thêm qui định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, đặc điểm nhân thân của bị cáo, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Hội đồng xét xử nhận thấy để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội cần tuyên phạt bị cáo một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra và cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ răn đe giáo dục đối với bị cáo.
Vật chứng của vụ án:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật sau giám định. (Đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/8/2019 giữa Công an huyện và Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Động)
Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công ăn việc làm và thu nhập không ổn định nên xét miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
* Xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn S 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, được trừ 06 ngày tạm giữ, còn phải chấp hành 01 (một) năm 02 (hai) tháng 24 (hai mươi bốn) ngày. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
* Vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật sau giám định. (Đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/8/2019 giữa Công an huyện và Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Động)
* Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
* Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm hình sự.
* Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Phòng KTNV và THA - Tòa án tỉnh; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ CA huyện; - VKS - THA huyện; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ; | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tiến Lũng |