- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Phú Q - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cao Phú Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37 /2019/HS-ST Ngày: 17 - 9 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tưởng Thị Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Lợi và ông Hoàng Công Nghĩa
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thục Trinh -Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2019/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2019/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:
Cao Phú Q, sinh ngày 12 tháng 02 năm 1997 tại xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Thôn T, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn D và bà Mai Thị H; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/5/2019, chuyển sang tạm giam từ ngày 22/5/2019 cho đến nay. Theo lệnh trích xuất bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Mai Thị H, sinh năm: 1971, nơi cư trú: Thôn T, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình - vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 15/5/2019, Cao Phú Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 73E1 - 090.16 từ xã Q đến khu vực phường B, thị xã B để mua ma tuý về sử dụng. Khi đi đến khu vực chợ Xép, thuộc khu phố 3, phường B, thị xã B thì Q gặp một người phụ nữ không rõ tên tuổi, địa chỉ và hỏi mua một gói ma tuý trị giá 500.000 đồng. Q cất gói ma tuý nói trên vào túi quần và điều khiển xe mô tô đi đến một quán cà phê không rõ tên, địa chỉ tại phường B. Khi đến quán cà phê, Q vào nhà vệ sinh và mang một ít ma tuý vừa mua được ra sử dụng. Sau đó, Q cất giấu số ma tuý còn lại vào túi quần rồi điều khiển xe mô tô đi về. Khi đi đến trước cổng UBND phường B thì bị Tổ tuần tra Công an thị xã B dừng phương tiện, kiểm tra, phát hiện và tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ 01 gói giấy báo nhiều màu sắc, bên trong có chất bột màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng - đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 73E1 - 090.16 và tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam 1.700.000 đồng
Tại bản Kết luận giám định số 518/GĐ-PC 09 ngày 17 tháng 5 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, kết luận: 01 gói chất bột màu trắng thu giữ từ người Cao Phú Q là chất ma tuý, loại Heroin, khối lượng 0,279g.
Quá trình điều tra cơ quan CSĐT Công an thị xã B đã thu giữ và xác định 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng - đồng, số Imei1: 861570039972039, số Imei2: 861570039972021, đã qua sử dụng, được Quốc mua cách đây 03 năm với mục đích nghe, gọi điện; số tiền 1.700.000 đồng là do Q lao động mà có; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 73E1 - 090.16 thuộc sở hữu của anh Nguyễn Văn S, trú tại Thôn T, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Tuy nhiên, anh S đã giao lại xe mô tô nói trên cho bố mẹ vợ là ông Cao Văn D và bà Mai Thị H để sử dụng.
Qua điều tra, xác định máy điện thoại di động nói trên và số tiền 1.700.000 đồng không liên quan đến đến việc thực hiện hành vi phạm tội nên cơ quan CSĐT Công an thị xã B đã trả lại cho Cao Phú Q. Đối với xe mô tô Q sử dụng để đi mua ma tuý thuộc sở hữu của anh S. Tuy nhiên, anh S đã giao lại cho bố mẹ vợ trực tiếp sử dụng vì vậy cơ quan CSĐT Công an thị xã B đã trả lại cho người trực tiếp sử dụng là bà Mai Thị H.
Liên quan trong vụ án có bà Mai Thị H, là người cho Q mượn xe mô tô để sử dụng đi mua ma tuý. Tuy nhiên, bà H không biết Q mượn xe để thực hiện hành vi phạm tội nên không cấu thành tội phạm.
Đối với người phụ nữ đã bán ma tuý cho Q nhưng không rõ tên tuổi, địa chỉ nên chưa có cơ sở để giải quyết. Cơ quan CSĐT Công an thị xã B tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.
Tại bản Cáo trạng số 40/CT-VKSNDTXBĐ ngày 23 tháng 8 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thị xã B, tỉnh Quảng Bình đã truy tố bị cáo Cao Phú Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Cao Phú Q từ 15 đến 18 tháng tù; căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì thư của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, số 518/GĐ-PC09, bên ngoài ghi “mẫu ký hiệu A”, bên trong chứa 0,151g chất ma tuý Heroine sau giám định, kèm theo vỏ bao gói.
Bị cáo Cao Phú Q nhất trí tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo, không có ý kiến tranh luận gì thêm.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo trình bày là đã ân hận và nhận thức được sự sai trái trong hành vi của mình , mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thị xã B, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, việc thu giữ các vật chứng của vụ án và các hành vi, quyết định tố tụng khác của Điều tra viên đều được thực hiện đúng pháp luật. Việc truy tố của Viện kiểm sát là đúng thẩm quyền, tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định.
Về hành vi phạm tội:
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, phù hợp với thời gian, địa điểm,vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 15/5/2019, bị cáo Cao Phú Q đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,279g chất ma tuý, loại Heroin nhằm mục đích để sử dụng, khi đi trên đường thì bị Công an thị xã B phát hiện bắt quả tang. Như vậy, đã có đủ căn cứ để kết luận: bị cáo Cao Phú Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn đã truy tố đối với bị cáo.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Quá trình phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được Heroine là chất ma túy Nhà nước nghiêm cấm tàng trữ trái phép nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho bản thân, gia đình và xã hội; đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma tuý; gây thiệt hại cho lợi ích của xã hội, của công dân và gây ảnh hưởng không tốt đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Trong tình hình tội phạm về ma tuý ngày càng gia tăng và gây nhiều hậu quả xấu đến cuộc sống của người dân, xét thấy cần phải áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự để xử phạt nghiêm đối với bị cáo nhằm đảm bảo răn đe, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật cho bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt:
Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng và được hưởng tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo đã tỏ ra ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo với cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo có nhân thân tốt. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt:
Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có điều kiện sửa chữa, tu dưỡng, rèn luyện bản thân để trở thành người công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.
Về vật chứng vụ án:
Xét thấy 01 phong bì thư của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, số 518/GĐ-PC09, bên ngoài ghi “mẫu ký hiệu A”, bên trong chứa 0,151g chất ma tuý Heroine sau giám định, kèm theo vỏ bao gói là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, tuyên tịch thu tiêu huỷ là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo Cao Phú Q phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cao Phú Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Cao Phú Q 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 16/5/2019
Tiếp tục tạm giam bị cáo Cao Phú Q 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm theo Quyết định tạm giam bị cáo tại phiên toà để đảm bảo công tác thi hành án
3. Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì thư đã được niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình (Vật chứng có đặc điểm như mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an thị xã B và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã B ngày 26/8/2019).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Cao Phú Q phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo về phần trực tiếp liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Bình; - Công an thị xã B; - VKSND thị xã B; - THADS thị xã B; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình; - Bị cáo; người liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Tưởng Thị Hà |