vanban.org

Bản án 37/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La Tuyên án 17/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hứa Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Hứa Minh T 18 (mười tám) tháng tù giam. Thời gian thụ hình tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 01/3/2019). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hứa Minh T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hứa Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MAI SƠN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2019/HS-ST
Ngày 17 - 6 - 2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN- TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Bà Lò Thị Chơ Các hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Hải Yến

Ông Giàng A Lù Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Phương Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2019/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2019/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:

HỨA MINH T. Tên gọi khác: không. Sinh ngày 17/10/1968 tại huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi ở: Bản A, xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hứa Minh T1 (đã chết) và bà: Lê Thị T2, sinh năm 1942; Bị cáo có vợ là Đặng Thị Hồng T3, sinh năm 1972; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 2004.

Tiền án: không.

Tiền sự: Ngày 06/10/2018 bị Công an huyện Mai Sơn xử phạt hành chính theo Quyết định số 036231 về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/3/2019, giam tại Nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.

Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Lò Văn P, sinh năm 1985. Địa chỉ: Bản C, xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 50 phút ngày 01/3/2019 tổ công tác Công an xã B làm nhiệm vụ tại khu vực thuộc bản Nong Sơn, xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La phát hiện Hứa Minh T điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Blade, vỏ màu đen, biển kiểm soát 26K1-14649 đi từ hướng bản Ta Đứng, xã B ra bản Nong Sơn, xã B có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tổ công tác đã áp sát, yêu cầu đối tượng có ma tuý thì tự giác giao nộp, sau khi được yêu cầu T đã tự giác lấy từ tay phải đang cầm ra 04 gói trong đó 01 gói được gói bằng mảnh nilon màu xanh, 01 gói được gói bằng mảnh nilon màu đỏ, 01 gói được gói bằng mảnh nilon màu trắng bên trong mỗi gói đều chứa chất bột nén màu trắng nghi là Heroine; 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa 01 viên nén màu hồng, một mặt có ký hiệu “WY” nghi là ma tuý tổng hợp. T khai là ma tuý của T mục đích tàng trữ để sử dụng. Tổ công tác đã T hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong, thu giữ vật chứng nêu trên và thu giữ xe máy biển kiểm soát 26K1-14649.

Quá trình điều tra Hứa Minh T khai nhận:

Khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 01/3/2019, Hứa Minh T đem theo số tiền 500.000VNĐ, điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Blade, biển kiểm soát 26K1-14649 của Lò Văn P, sinh năm 1985 trú tại bản Búc A, xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La chở P đi từ nhà T đến nương của gia đình T ở Bản A, xã B. Khi đến nương T bảo P xuống xe vào làm trước và mượn xe máy của P nói đi có việc. T điều khiển xe đi theo đường tỉnh lộ 110 hướng về huyện Mường La, tỉnh Sơn La mục đích tìm mua ma tuý sử dụng.

Đi đến khu vực thuộc địa phận bản Nong Chạy, xã Mường Chùm, huyện Mường La, tỉnh Sơn La T gặp một người đàn ông không quen biết đang đứng ven đường, T dừng xe đặt vấn đề hỏi mua Heroine, người đó nói có Heroine bán và hỏi T mua bao nhiêu, T nói mua 500.000VNĐ Heroine rồi lấy tiền từ túi quần đang mặc ra đưa cho người đàn ông, người đàn ông nhận tiền và bảo T chờ rồi đi bộ về hướng bản Nong Chạy. Khoảng 10 phút sau, người đàn ông quay lại đưa cho T 04 gói nilon trong đó 03 gói chứa Heroine và 01 gói chứa 01 viên hồng phiến, người đó nói hồng phiến là cho thêm T rồi bỏ đi. T cầm các gói ma tuý vừa mua được ở tay phải rồi điều khiển xe quay về mục đích tìm nơi sử dụng. Khi T đi đến khu vực bản Nong Sơn, xã B, huyện Mai Sơn thì bị tổ Công tác Công an xã B phát hiện, kiểm tra yêu cầu T có ma túy thì tự giác giao nộp, T đã tự giác giao nộp số ma tuý đang cất giấu cho tổ công tác. Tổ công tác đã T hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Ngày 01/3/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn phối hợp với phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành bóc mở niêm phong, cân tịnh, trích rút m u giám định đối với vật chứng thu giữ của Hứa Minh T. Kết quả:

01 viên nén màu hồng có khối lượng 0,1gam; trích rút toàn bộ làm m u giám định, ký hiệu M1.

Tổng khối lượng chất bột nén màu trắng trong 03 gói vật chứng là 0,58gam, trích rút toàn bộ làm m u giám định ký hiệu M2, M3, M4.

Ngày 05/3/2019, Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La ra bản kết luận giám định số 532 kết luận:

“Mẫu gửi giám định ký hiệu M1 là ma túy; Loại Methamphetamine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,1gam.

Mẫu gửi giám định ký hiệu M2, M3, M4 đều là ma túy; Loại Heroine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,58gam.

Tổng khối lượng ma túy thu giữ được là 0,1gam loại Methamphetamine và 0,58gam loại Heroine”.

Tại phiên tòa bị cáo Hứa Minh T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

Bản cáo trạng số 37/CT-VKSMS ngày 27/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đã truy tố bị cáo Hứa Minh T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Sau khi kết thúc phần thẩm vấn, đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Hứa Minh T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Hứa Minh T từ 18 đến 24 tháng tù giam.

Áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo từ 5.000.000VNĐ đến 6.000.000VNĐ.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy vỏ bao bì niêm phong vật chứng ban đầu, các mảnh nilon gói ma túy ban đầu được niêm phong theo quy định.

Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lò Văn P 01 xe máy nhãn hiệu Honda Blade, vỏ màu đen, biển kiểm soát 26K1-14649.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.

Bị cáo Hứa Minh T tự bào chữa: Nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện Mai Sơn, Kiểm sát viên, thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tình tiết định tội, định khung hình phạt: Trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Hứa Minh T khai nhận: Hứa Minh T là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 01/3/2019, Hứa Minh T đã mua 500.000VNĐ Heroine và Methamphetamine. Cùng ngày, Hứa Minh T bị tổ công tác công an xã B, huyện Mai Sơn bắt quả tang, thu giữ 0,58gam Heroine và 0,1gam Methamphetamine.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 15 giờ 00 phút ngày 01/3/2019 của tổ công tác Công an xã B, huyện Mai Sơn; biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh, trích rút m u giám định và niêm phong lại vật chứng hồi 17 giờ 25 phút ngày 01/3/2019 của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn; phù hợp với kết luận giám định số 532 ngày 05/3/2019 của Phòng k thuật hình sự công an tỉnh Sơn La, phù hợp với biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung đối với bị can và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua tranh luận tại phiên tòa không có gì mâu thu n.

Bị cáo Hứa Minh T đã tàng trữ 0,58gam Heroine và 0,1gam Methamphetamine; căn cứ Điều 4 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì tổng khối lượng ma túy bị cáo T tàng trữ là 0,68gam. Với việc tàng trữ 0,68gam ma túy nhằm mục đích để sử dụng đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Hứa Minh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn truy tố bị cáo tại Bản cáo trạng số: 37/CT-VKSMS ngày 27/5/2019 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Điều 249 BLHS năm 2015 quy định: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;"

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, dân sự. Ngày 06/10/2018 bị cáo đã bị Công an huyện Mai Sơn xử phạt hành chính theo Quyết định số 036231 về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy nên bị cáo nhận thức rõ được việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, do thiếu rèn luyện, tu dưỡng, bị cáo đã phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho các đối tượng hám lời có cơ hội lưu thông, buôn bán ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì lẽ đó khi lượng hình cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo xét thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 06/10/2018 bị cáo đã bị Công an huyện Mai Sơn xử phạt hành chính theo Quyết định số 036231 về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, khi chưa được xóa tiền sự thì bị cáo đã phạm tội cùng loại với lỗi cố ý. Nhưng xét thấy: tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về việc đã làm; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự sẽ được Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo khi quyết định mức hình phạt.

Từ sự phân tích trên, căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù giam với mức phạt nghiêm khắc, đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, xã hội, giúp bị cáo từ bỏ ma túy; đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ biên bản xác minh của Cơ quan điều tra và tại phiên tòa xét thấy: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, thu nhập không ổn định. Do vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

Về vật chứng, xử lý vật chứng:

Đối với vỏ bao bì niêm phong vật chứng ban đầu, các mảnh nilon gói ma túy ban đầu được niêm phong theo quy định. Xét thấy là những vật dùng vào việc phạm tội và vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Blade, vỏ màu đen, biển kiểm soát 26K1-14649. Xét thấy đây là tài sản hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lò Văn P, anh P không biết việc bị cáo sử dụng tài sản trên vào việc phạm tội nên việc cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Mai Sơn trả lại tài sản trên cho anh Phanh là đúng quy định của pháp luật.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.

Về các vấn đề khác:

Về nguồn gốc chất ma tuý T khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực bản Nong Chạy, xã Mường Chùm, huyện Mường La, việc mua bán không có ai biết, chứng kiến do đó cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra mở rộng vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Tuyên bố bị cáo Hứa Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Hứa Minh T 18 (mười tám) tháng tù giam. Thời gian thụ hình tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 01/3/2019).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy vỏ bao bì niêm phong vật chứng ban đầu, các mảnh nilon gói ma túy ban đầu được niêm phong theo quy định.

Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lò Văn P 01 xe máy nhãn hiệu Honda Blade, vỏ màu đen, biển kiểm soát 26K1-14649.

3. Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

Báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 17/6/2019).

Cỡ chữ