vanban.org

Bản án 37/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 16/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Xuân L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Trần Xuân L 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, về mức thu, miễn, giảm, thu, nộ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sun…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Xuân L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LAI VUNG
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2019/HS-ST
Ngày: 16-10-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Quang Kim Cúc - Cán bộ hưu trí.

Ông Đặng Văn Hai – Cán bộ hưu trí.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Diễm Quỳnh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Phan Bích Liễu - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 10 năm 2019, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2019/TLST-HS, ngày 11 tháng 9 năm 2019; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2019/QĐXXST-HS, ngày 17 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:

Trần Xuân L, sinh ngày: 01/3/2002, tại: Đồng Tháp; Nơi cư trú: ấp T M 2, xã V T, huyện L V, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Hoàng O và bà Nguyễn Thị Thùy T; Tiền án, Tiền sự: Không có; Không bị bắt tạm giữ, tạm giam; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi trú và hiện đang tại ngoại tại ấp T M 2, xã V T, huyện L V, tỉnh Đồng Tháp (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Xuân L:

Ông Trần Hoàng O, sinh năm: 1980 (cha ruột), bà Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm: 1979 (mẹ ruột); Cùng nơi cư trú: ấp T M 2, xã V T, huyện L V, tỉnh Đồng Tháp. (có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo Trần Xuân L:

Trợ giúp viên pháp lý: Ông Nguyễn Quốc Thanh - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đồng Tháp - Chi nhánh số 1; Địa chỉ: Số 466 đường Nguyễn Sinh Sắc, Khóm 5, Phường 1, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. (có mặt)

- Bị hại:

Nguyễn Viết L, sinh năm: 1973 (đã chết)

Nơi cư trú: ấp H B, xã T H, huyện L V, tỉnh Đồng Tháp.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Viết L:

Bà Đào Thị Kim T, sinh năm: 1976; Nguyễn Trúc L, sinh ngày 21/10/2005; Nơi cư trú: ấp H B, xã T H, huyện L V, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện hợp pháp cho Nguyễn Trúc L là bà Bà Đào Thị Kim T, sinh năm: 1976; Nơi cư trú: ấp H B, xã T H, huyện L V, tỉnh Đồng Tháp. (có mặt)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Trần Hoàng O, sinh năm: 1980. (có mặt)

2. Bà Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm: 1979. (có mặt)

Cùng nơi cư trú: ấp T M 2, xã V T, huyện L V, tỉnh Đồng Tháp.

- Người làm chứng:

1. Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm: 2000; Nơi cư trú: ấp T Q, xã P H, huyện L V, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt);

2. Phạm Thanh T, sinh năm: 1989;

3. Nguyễn Thị V, sinh năm: 1964;

Cùng nơi cư trú: ấp H T, xã T H, huyện L V, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt);

4. Lê Thị Hồng Á, sinh ngày 02/7/2003; Nơi cư trú: ấp T H, xã V T, huyện L V, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt);

Người đại diện hợp pháp cho Lê Thị Hồng Á là bà Huỳnh Thị Ngọc Đ, sinh năm: 1987 (mẹ ruột); Nơi cư trú: ấp T H, xã V T, huyện L V, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt);

5. Phạm Văn P, sinh năm: 1993; Nơi cư trú: ấp T P, xã P H, huyện L V, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt);

6. Phạm Văn V, sinh năm: 1994; Nơi cư trú: ấp T P, xã P H, huyện L V, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 17 giờ ngày 08/02/2019, Trần Xuân L, sinh ngày: 01/3/2002 (không có giấy phép lái xe hạng A1), điều khiển xe mô tô mang biển số 66V1-320.34 (xe do bà Nguyễn Thị Thùy T là mẹ ruột của L đang để ở nhà khi L lấy xe bà T không biết) từ nhà L ở số ấp T M 2, xã V T, huyện L V, tỉnh Đồng Tháp, đến nhà của Phạm Văn P và Phạm Văn V ở ấp Tân Phú, xã Phong Hòa, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp cùng uống rượu. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, L điều khiển xe mô tô 66V1- 320.34 chạy về nhà đến đoạn đường có Km 23 + 120 thuộc ấp H T, xã T H, huyện L V thì thấy 01 xe mô tô chạy cùng chiều phía trước đang rẽ trái, có bật đèn xi nhan trái, L điều khiển xe chạy vượt lên bên trái mà không bấm còi xin vượt làm xe của L đụng vào thanh gác chân trước bên trái xe mô tô có biển số 66K4- 1767 do anh Nguyễn Viết L, sinh năm: 1973 điều khiển. Hậu quả là 02 xe và người bị té ngã xuống đường, anh L chết trên đường đi cấp cứu do chấn thương sọ não, còn L thì bị gãy xương mặt phải, gãy tay phải được đưa đến Bệnh viện Đa khoa Sa Đéc cấp cứu và điều trị đến ngày 15/02/2019 thì xuất viện.

Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường lập lúc 08 giờ 00 phút ngày 09/02/2019 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Lai Vung thể hiện như sau:

Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là tại Km 23 + 120, Quốc lộ 54 ấp H T, xã T H, huyện L V; nơi xảy ra vụ tai nạn là đoạn đường thẳng không bị che khuất tầm nhìn, mặt đường rộng 7,0m, được trãi nhựa phẳng, có vạch kẻ màu đứt quảng phân chia hai dòng phương tiện ngược chiều nhau. Tất cả các số đo được tính bằng mét và được kéo về một bên lề chuẩn bên phải theo hướng đi từ Định Hòa về Tân Thành; Ký hiệu (X) là tâm vùng va chạm đo vào lề chuẩn có khoảng cách 3,0m; từ tâm vùng va chạm đến đầu vết trượt ký hiệu số (1) có khoảng cách 1,90m; đến đầu vết cày ký hiệu số (4) có khoảng cách 3,90m; đến tim lộ có khoảng cách 0,50m.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lai Vung tiến hành tạm giữ và khám nghiệm phương tiện 02 xe mô tô nêu trên như sau:

- Xe mô tô biển số 66K4-1767 nhãn hiệu LEVEL, loại xe nữ, màu sơn nâu, dung tích 97, số máy FMG-50100797, số khung C100YDY-100797. Gương chiếu hậu bên trái bị sứt mất; tay cầm bên trái mặt ngoài có dấu trầy xước; đèn tín hiệu bên trái bị sứt hở; đèn chiếu sáng phía trước bị sứt hở; rổ xe mặt bên trái bị cong thụng vào trong; ốp bảo vệ cổ xe bị sứt rời; công tắc đèn tín hiệu bị gãy mất phần đầu; khởi động phương tiện thấy đèn tín hiệu bên phải đang hoạt động; bửng xe bên trái bị nứt; thanh gác chân sau bên trái, mặt dưới có dấu trầy xước; cần số bị cong từ sau ra trước, từ ngoài vào trong; thanh gác chân trước bên trái bị gãy rơi ra và cong từ sau ra trước; chân chống nghiêng bị gãy rơi ra; ốp lốc máy có dính chất màu đen, bị thủng lỗ kích thước 04cm x 1,5cm.

- Xe mô tô biển số 66V1-320.34, nhãn hiệu YAMAHA, số loại EXCITER, màu sơn xanh - bạc, dung tích 149, số máy: G3D4E109891, số khung 0610FY098023. Toàn thân xe bên phải dính nhiều bùn đất; đèn chiếu sáng phía trước bị sứt rời; mặt nạ trước bị sứt mất; tay cầm bên phải mặt ngoài có dấu trầy xước; thắng tay bên phải mặt ngoài có dấu trầy xước; đèn tín hiệu bên phải phía trước bị bể; ốp bảo vệ đèn tín hiệu bên trái, phía trước có dấu trầy xước và bể; hai bửng bể sứt mất; hai phuộc bị cong từ trước ra sau; mỏ dè trước bị nứt; lốp xe trước bị thủng lỗ kích thước 03cm x 02 cm; vành bánh xe trước mặt ngoài bên phải có dấu trầy xước; thắng chân bị cong từ trước ra sau, từ ngoài vào trong; ốp bảo vệ bô xe bị nứt.

Ngày 19/6/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lai Vung đã trả lại cho bà Đào Thị Kim T (vợ của Nguyễn Viết L) 01 xe mô tô biển số 66K4-1767, nhãn hiệu LEVEL, loại xe nữ, màu sơn nâu, dung tích 97, số máy FMG-50100797, số khung C100YDY-100797; trả lại cho bà Nguyễn Thị Thùy T 01 xe mô tô biển số 66V1-320.34, nhãn hiệu YAMAHA, số loại EXCITER, màu sơn xanh - bạc, dung tích 149, số máy: G3D4E109891, số khung 0610FY098023.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 83/TTh/TTPY ngày 10/02/2019 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đồng Tháp kết luận nguyên nhân chết của Nguyễn Viết L là chấn thương sọ não do tai nạn giao thông.

Kết luận định giá tài sản số 64/KL-ĐGTS ngày 24/5/2019 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự kết luận giá trị thiệt hại xe mô tô biển số 66V1-320.34 là 4.520.000 đồng; giá trị thiệt hại xe mô tô biển số 66K4-1767 là 513.000 đồng.

Kết luận giám định số 138/KL-KTHS ngày 18/02/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp kết luận: Mẫu máu chứa trong ống nghiệm, ghi thu của Nguyễn Viết L, sinh năm: 1973, được thu giữ và niêm phong từ lúc 00 giờ 05 phút đến 00 giờ 25 phút ngày 09/02/2019 tại Trạm y tế xã Tân Hòa, tại thời điểm giám định ngày 10/02/2019 không phát hiện thành phần cồn.

Kết luận giám định số 139/KL-KTHS ngày 18/02/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp kết luận: Mẫu máu chứa trong ống nghiệm, ghi thu của Trần Xuân L, sinh năm: 2002, được thu giữ và niêm phong từ lúc 22 giờ 05 phút đến 22 giờ 30 phút ngày 08/02/2019 tại bệnh viện Đa khoa Sa Đéc, tại thời điểm giám định ngày 10/02/2019 có chứa thành phần cồn (Ethanol) nồng độ 59,1mg/100ml máu.

Tại bản cáo trạng số 35/CT-VKS, ngày 09/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, đã truy tố Trần Xuân L ra trước Toà án nhân dân huyện Lai Vung, để xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a,b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Trần Xuân L khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Xuân L là ông Trần Hoàng O và bà Nguyễn Thị Thùy T cũng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng trình bày và xác nhận lời khai của L là đúng và không ai ép buộc hay xúi giục L khai, bà T đã nhận lại xe và gia đình bị cáo đã thỏa thuận thống nhất bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại tiền chi phí mai táng, tiền tổn thất tinh thần, tiền cấp dưỡng cho Nguyễn Trúc L tổng cộng là 80.000.000 đồng, ngoài ra ông Oanh và bà T không trình hay yêu cầu gì thêm khác.

- Đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Viết L là Đào Thị Kim T trình bày: Chị là vợ của bị hại Nguyễn Viết L việc anh L bị tai nạn và tử vong đúng như nội dung cáo trạng. Gia đình của bị cáo đã thỏa thuận thống nhất bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại tiền chi phí mai táng, tiền tổn thất tinh thần, tiền cấp dưỡng cho Nguyễn Trúc L tổng cộng là 80.000.000 đồng, chị Đào Thị Kim T đã nhận đủ tiền bồi thường, có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, ngoài ra không trình hay yêu cầu gì thêm khác.

- Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, tại phiên Tòa, Kiểm sát viên khẳng định việc truy tố trên là đúng người đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo Trần Xuân L đã có hành vi điều khiển xe mô tô biển số 66V1-320.34, nhãn hiệu YAMAHA, số loại EXCITER, bị cáo không có giấy phép lái xe theo quy định khi tham gia giao thông, trong người có nồng độ cồn vượt mức cho phép, do vượt không đúng quy định, không đảm bảo an toàn đã va chạm vào xe mô tô biển số 66K4-1767 do anh Nguyễn Viết L điều khiển chạy cùng chiều gây ra tai nạn làm cho anh Nguyễn Viết L tử vong. Hành vi của bị cáo Trần Xuân L đã vi phạm quy định tại khoản 8, khoản 9 Điều 8, khoản 4 Điều 14, điểm a khoản 1 Điều 60 của Luật Giao thông đường bộ, gây hậu quả nghiêm trọng xâm phạm tính mạng của bị hại. Khi thực hiện hành vi bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khi phạm tội bị cáo chưa thành niên, bị cáo tác động gia đình khắc phục toàn bộ hậu quả và đại diện hợp pháp bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 91 và khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt Trần Xuân L từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Đã thỏa thuận bồi thường xong, nên không xem xét. Về xử lý vật chứng: đã giải quyết xong. Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định pháp luật.

Trợ giúp viên pháp lý ông Nguyễn Quốc Thanh phát biểu quan điểm: Thống nhất luận tội của Kiểm sát viên bị cáo Trần Xuân L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét có phần lỗi của bị hại, tài liệu chứng cứ trong hồ sơ không chứng minh tại thời điểm rẽ trái bị hại có bật đèn tín hiệu báo hướng rẽ và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét những tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo L là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, bị cáo đã khắc phục toàn bộ hậu quả, đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên nhận thức pháp luật của bị cáo còn hạn chế nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 91 và khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử bị cáo 01 năm tù.

Bị cáo Trần Xuân L thống nhất với Bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, thống nhất với phát biểu của vị Trợ giúp viên nhưng có bổ sung ý kiến là khi rẽ trái bị hại có bật đèn tín hiệu bên trái báo hướng rẽ, bị cáo chạy vượt lên không tránh kịp nên gây tai nạn cho bị hại ngoài ra không tranh luận gì. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên của huyện Lai Vung trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự quy định.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.

Tại phiên tòa người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do. Tuy nhiên trong quá trình điều tra người làm chứng đã khai đầy đủ, rõ ràng. Đồng thời tại phiên tòa Kiểm sát viên, bị cáo, Trợ giúp viên pháp lý, đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị xét xử vắng mặt người làm chứng. Xét thấy sự vắng mặt của những người làm chứng không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Do đó, căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt những người làm chứng.

Về hành vi của bị cáo: Bị cáo Trần Xuân L đã có hành vi điều khiển xe mô tô mô tô biển số 66V1-320.34, nhãn hiệu YAMAHA, số loại EXCITER không có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định, khi điều khiển xe trong người có nồng độ cồn vượt mức cho phép là 59,1mg/100ml, do không chú ý quan sát, vượt không đúng quy định và không đảm bảo an toàn đã va chạm vào thanh gác chân trước bên trái xe mô tô biển số 66K4- 1767 do anh Nguyễn Viết L đang điều khiển phía trước cùng chiều gây ra tai nạn, hậu quả làm anh Nguyễn Viết L tử vong. Hành vi của bị cáo Trần Xuân L là nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại cho tính mạng, tài sản của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn giao thông đường bộ ở địa phương.

Lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác được thể hiện trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi nêu trên của bị cáo Trần Xuân L đã vi phạm quy định tại khoản 8, khoản 9 Điều 8, khoản 4 Điều 14 của Luật Giao thông đường bộ, gây hậu quả nghiêm trọng xâm phạm tính mạng của bị hại, thiệt hại tài sản của người khác, do đó lời nhận tội của bị cáo là có căn cứ, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, cho nên hành vi của bị cáo Trần Xuân L có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” phạm vào điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại điểm a khoản 1 và điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

……………………………

2.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định

……………….”

Về tính chất, mức độ tội phạm: Hành vi của bị cáo Trần Xuân L là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng của người khác một cách trái pháp luật, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự, an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn huyện. Bị cáo biết rõ khi tham gia giao thông không có giấy phép lái xe theo quy định và trong người có nồng độ cồn vượt mức cho phép, không chú ý quan sát và không đảm bảo an toàn là vi phạm luật giao thông đường bộ, nhưng do chủ quan mà bị cáo Trần Xuân L đã gây ra tai nạn giao thông, làm cho anh Nguyễn Viết L tử vong, với hậu quả rất nghiêm trọng là anh Nguyễn Viết L tử vong, nên việc đưa bị cáo ra xét xử công khai như ngày hôm nay là cần thiết, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, nhằm mục đích giáo dục phòng ngừa chung trong xã hội. Xét tính chất, mức độ, ý thức và hậu quả phạm tội của bị cáo, khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, sau khi phạm tội bị cáo đã tác động gia đình khắc phục toàn bộ hậu quả, khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì vậy cần phải có một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm mục đích răn đe, giáo dục phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Trần Xuân L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình khắc phục toàn bộ hậu quả và đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Khi phạm tội bị cáo Trần Xuân L là người chưa thành niên nên cần áp dụng Điều 91 và khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để đảm bảo đường lối xử lý người chưa thành niên đúng với quy định pháp luật hình sự. Bị cáo Trần Xuân L có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xét xử dưới khung hình phạt đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong, nên Hội đồng xét xử không đặt thành vấn đề xem xét giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự: Đã thỏa thuận bồi thường xong, nên Hội đồng xét xử không đặt thành vấn đề xem xét giải quyết.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo cho rằng trong vụ án này có phần lỗi của bị hại là không có căn cứ chấp nhận. Về các nội dung bào chữa khác cho bị cáo là có cơ sở đúng quy định pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Kiểm sát viên đề nghị giải quyết nội dung vụ án này là đúng quy định pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260; Điều 38, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 91 và khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Trần Xuân L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Trần Xuân L 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Xuân L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Trần Xuân L khi phạm tội là người chưa thành niên nên ông Trần Hoàng O và bà Nguyễn Thị Thùy T là cha mẹ ruột của bị cáo có nghĩa vụ thực hiện thay cho bị cáo.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 16/10/2019.

Cỡ chữ