- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Mấu Thị G yêu cầu ly hôn Mấu Thăn T"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Mấu Thị G.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ R TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2019/HNGĐ-ST Ngày: 26/7/2019 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ R, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Công
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đại Hải
2. Ông Lê Xuân Hoàng
- Thư ký phiên toà: Bà Chu Thị Huân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố R.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố R tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố R xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 47/2019/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2019 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2019, Quyết định hoãn phiên tòa số: 27/2019/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Mấu Thị G, sinh năm: 1992
Nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, thành phố R, tỉnh Khánh Hòa. (Có mặt)
- Bị đơn: Anh Mấu Thăn T, sinh năm: 1990
Nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, thành phố R, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/3/2019 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Mấu Thị G trình bày: Chị và anh Mấu Thăn T tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau vào năm 2011; được Ủy ban nhân dân xã Đ, thành phố R cấp giấy chứng nhận kết hôn số 122, quyển số 01 ngày 10/10/2012. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2017 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh T đi làm không đưa tiền về nuôi con mà chỉ lo ăn chơi, khi chị G nói thì vợ chồng nảy sinh cãi vã, anh T bỏ về nhà cha mẹ ruột sống. Từ đó, vợ chồng không còn gặp gỡ, quan tâm chăm sóc gì nhau, chị thấy không còn tình cảm với anh T. Do đó, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
Về con chung: Chị và anh T có 02 con chung Mấu Văn B, sinh ngày: 08/5/2012 và Mấu Thị Thu V, sinh ngày 02/7/2016. Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố R:
- Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của người tiến hành tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Gái. Về quan hệ hôn nhân: Chị G được ly hôn anh T; về con chung: Giao 02 con chung cho chị G nuôi dưỡng, anh T không cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung: Chị G không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét. Về án phí: Chị Gái phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm “Ly hôn”.
* Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Giấy chứng nhận kết hôn của chị G và anh T; Giấy khai sinh cháu B, cháu V; Sổ hộ khẩu đứng tên anh T; Giấy chứng minh nhân dân chị G; Biên bản xác minh, Biên bản làm việc ngày 05/4/2019; Đơn nguyện vọng của cháu B.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Mấu Thị G có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố R giải quyết vụ án hôn nhân gia đình về “Ly hôn” giữa chị và anh Mấu Thăn T. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố R.
[1.2] Về sự vắng mặt của bị đơn: Tại phiên tòa, vắng mặt bị đơn anh T nhưng anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị G và anh T tự nguyện tìm hiểu, chung sống với nhau từ năm 2011 và được Ủy ban nhân dân xã Đ, thành phố R cấp giấy chứng nhận kết hôn số 122, quyển số 01 ngày 10/10/2012 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng anh chị sống hạnh phúc một thời gian, đến năm 2017 phát sinh nhiều mâu thuẫn. Do kinh tế gia đình khó khăn nhưng vợ chồng không thông cảm, chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống. Sau khi mâu thuẫn xảy ra, anh chị không tìm cách hàn gắn mà mỗi người sống một nơi nên làm cho tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt. Bản thân chị G không còn tình cảm với anh T. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập anh T đến Tòa để giải quyết vụ án nhưng anh T không chấp hành, thể hiện thái độ thờ ơ, bỏ mặc cuộc sống hôn nhân của anh chị. Tại Biên bản xác minh ngày 05/4/2019, chính quyền địa phương cung cấp: “Chị Mấu Thị G và anh Mấu Thăn T có hộ khẩu thường trú và sinh sống tại thôn P, xã Đ. Trong quá trình sống chung, hai năm nay xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng không sống chung nhưng vợ chồng không nhờ chính quyền địa phương can thiệp. Vì vậy, nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng họ là gì chính quyền địa phương không biết. Hiện nay, anh Mấu Thăn T đã bỏ về nhà cha mẹ đẻ sinh sống và thường xuyên đi làm ăn xa, lâu lâu mới về nhà cha mẹ đẻ một thời gian ngắn lại đi.”. Xét thấy: Mâu thuẫn của vợ chồng chị G, anh T đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị G yêu cầu được ly hôn với anh T là có cơ sở, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị G.
Về con chung: Chị G và anh T có 02 con chung Mấu Văn B, sinh ngày: 08/5/2012 và Mấu Thị Thu V, sinh ngày 02/7/2016. Chị G yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung.
Xét: Việc giao con cho ai nuôi dưỡng, giáo dục sau khi bố mẹ ly hôn là nhằm phát triển tốt cho con cả về mặt thể chất lẫn tinh thần. Cháu B có nguyện vọng được sống với mẹ, cháu V là nữ; hiện nay hai cháu cũng đang sống cùng với mẹ, rất cần sự quan tâm, chăm sóc của mẹ nên xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình, cần tiếp tục giao 02 con chung cho chị G tiếp tục nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị G về việc không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị G không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Chị G phải nộp 300.000 đồng tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm về “Ly hôn”.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Mấu Thị G.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Mấu Thị G được ly hôn anh Mấu Thăn T.
2. Về con chung:
Chị Mấu Thị G được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 con chung Mấu Văn B, sinh ngày: 08/5/2012 và Mấu Thị Thu V, sinh ngày 02/7/2016.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Mấu Thị G về việc không yêu cầu anh Mấu Thăn T cấp dưỡng nuôi con chung.
* Vì lợi ích của con, hai bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người nuôi con, cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được quyền cản trở người đó thực hiện quyền này.
3. Về tài sản chung: Chị Mấu Thị G không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
4. Về án phí: Chị Mấu Thị G phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm về “Ly hôn” nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị Gái đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0000302 ngày 12/3/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố R. Chị G đã nộp đủ tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
5. Chị Mấu Thị G có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Mấu Thăn T có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND t.p R; - CCTHADS t.p R; - UBND xã Đ; - Các đương sự; - Lưu án văn. - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng Công |