vanban.org

Bản án 37/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đền Thị L.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Đền Thị L được ly hôn với ông Triệu X. 2. Về con chung: Giao cháu Triệu Vương H, sinh ngày 27/5/2010 cho ông Triệu X trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên; bà Đền Thị L không cấp dưỡng cho con chung. Dành quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung cho bà L mà không ai được cản t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ĐỀN THỊ L - TRIỆU X"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đền Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG PHÚ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2019/HNGĐ - ST.
Ngày: 24 - 10 - 2019.
V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thanh Rực.

2. Ông Thạch Thanh Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ánh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc Bích - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 185/2019/TLST - HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2019 về “tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Đền Thị L; sinh năm 1987; địa chỉ: ấp C, xã T, huyện Đ, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

2. Bị đơn: Ông Triệu X; sinh năm 1987; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện P, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện lập ngày 09/6/2019 nguyên đơn bà Đền Thị L trình bày: Bà L và ông Triệu X tự nguyện kết hôn với nhau và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện P (nay là huyện Đ), tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 218, ngày 08/8/2009. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, đến năm 2014 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông X có mối quan hệ chung sống với người phụ nữ khác từ đó vợ chồng thường xuyên cải vã qua lại nên cuộc sống không hạnh phúc, bà L và ông X sống ly thân từ năm 2014 cho đến nay, sau khi sống ly thân thì bà L và ông X có gặp nhau nhưng không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng. Trong thời gian chung sống, bà L và ông X có 01 người con chung là Triệu Vương H, sinh ngày 27/5/2010 hiện nay sống chung với ông X; về tài sản chung và nợ chung không có.

Tại phiên tòa, bà Đền Thị L yêu cầu ly hôn với ông Triệu X; thống nhất giao con chung cho ông X trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên và không cấp dưỡng cho con chung; về tài sản chung và nợ chung: Không có nên bà L không yêu cầu gì.

- Đối với bị đơn ông Triệu X: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông X, nhưng ông X không có ý kiến phản đối gì. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông X 02 lần để tham gia tố tụng tại phiên hòa giải nhưng ông X vẫn vắng mặt nên Tòa án đã lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được. Bị đơn ông Triệu X đã được triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

- Tại phiên tòa, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú tham gia phiên tòa trình bày ý kiến: Việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và xác định tư cách của người tham gia tố tụng trong vụ án là đúng quy định của pháp luật; việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán , Thư ký , Hô ̣i đồng xét xử và nguyên đơn trong quá trinh giải quyết vu ̣ án kể từ khi thu ̣ lý vu ̣ án đến trướ c thờ i

̀ điểm Hô ̣i đồng xét xử vào nghi ̣ án đã chấp hành đúng các quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t về tố tu ̣ng dân sự . Đối với bị đơn ông Triệu X chưa chấp hành đúng các quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t về tố tu ̣ng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra các chứng cứ và kết quả tranh luận tại phiên tòa xét thấy tình trạng của vợ chồng bà Đền Thị L và ông Triệu X đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Đền Thị L; giao cháu Triệu Vương H cho ông Triệu X trực tiếp nuôi dưỡng, bà L không cấp dưỡng cho con chung; về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Bị đơn ông Triệu X đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông X.

Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, bà Đền Thị L và ông Triệu X tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện P (nay là huyện Đ), tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 218, ngày 08/8/2009 nên quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông X là hợp pháp, được pháp luật công nhận. Căn cứ vào khoản 1 Điều 85 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, bà L có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Xét lý do yêu cầu ly hôn của bà L, Hội đồng xét xử xét thấy: Bà L cho rằng nguyên nhân do ông X có mối quan hệ chung sống với người phụ nữ khác từ đó vợ chồng thường xuyên cải vã qua lại nên cuộc sống không hạnh phúc và sau khi sống ly thân thì bà L và ông X có gặp nhau nhưng không thể hàn gắn tình cảm. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên hòa giải để động viên vợ chồng bà L và ông X đoàn tụ với nhau nhưng ông X vẫn vắng mặt và bà L vẫn kiên quyết ly hôn với ông X vì tình cảm vợ chồng không còn. Như vậy, tình trạng của vợ chồng bà L và ông X đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét việc bà L xin ly hôn với ông X là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 89 và Điều 91 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà L được ly hôn với ông X.

Về con chung: Bà Đền Thị L xác định trong thời gian chung sống, bà L và ông Triệu X có 01 người con chung là Triệu Vương H, sinh ngày 27/5/2010 sống chung với ông X; bà L thống nhất giao con chung cho ông Triệu X trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên. Xét thấy, từ khi bà L và ông X sống ly thân cho đến nay cháu H do ông X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; đồng thời, quá trình giải quyết vụ án khi ghi nhận ý kiến thì cháu H có nguyện vọng sống chung với ông X. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu H, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải giao cháu H cho ông X trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 92 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Ngoài ra, căn cứ vào Điều 94 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Hội đồng xét xử dành quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung cho bà L mà không ai được cản trở.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án ông Triệu X không yêu cầu cấp dưỡng cho con chung và tại phiên tòa bà Đền Thị L không thống nhất cấp dưỡng cho con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Đền Thị L xác định trong thời gian chung sống bà L và ông Triệu X không có tài sản chung và không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bà Đền Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông Triệu X không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 85, khoản 1 Điều 89, Điều 91, Điều 92 và Điều 94 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đền Thị L.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Đền Thị L được ly hôn với ông Triệu X.

1.2. Về con chung: Giao cháu Triệu Vương H, sinh ngày 27/5/2010 cho ông Triệu X trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên; bà Đền Thị L không cấp dưỡng cho con chung. Dành quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung cho bà L mà không ai được cản trở.

1.3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Đền Thị L xác định không có tài sản chung và không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đền Thị L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0008443 ngày 10/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng; như vậy, bà Đền Thị L đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm. Ông Triệu X không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ