- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp về hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Nguyễn Thị P được ly hôn với Nguyễn Thành T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2019/HNGĐ-ST Ngày: 18-7-2019. V/v tranh chấp về hôn nhân - gia đình ly hôn, nuôi con và cấp dưỡng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Tô Hoàng Vũ;
Ông: Đặng Văn Hai.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Dũng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 18 tháng 7 năm 2019 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 136/2019/TLST-HNGĐ, ngày 19/4/2019 “V/v tranh chấp về hôn nhân - gia đình ly hôn, nuôi con và cấp dưỡng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 10 tháng 6 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 439/2019/QĐST-HNGĐ, ngày 25 tháng 06 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị P, Sinh năm: 1970; Địa chỉ: ấp HT, xã TH, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp (Có mặt).
- Bị đơn: Nguyễn Thành T, Sinh năm: 1970; Địa chỉ: ấp HT, xã TH, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 09/4/2019; Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tại phiên tòa nguyên đơn Nguyễn Thị P trình bày: Vào năm tháng 9/1987 Nguyễn Thị P và Nguyễn Thành T kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Minh Bắc, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang (Nay là xã An Minh Bắc, huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang) ngày 18/01/1988. Trong quá trình sống chung có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không hợp nhau, Nguyễn Thành T không chung thủy lại có người phụ nữ khác bên ngoài, Nguyễn Thành T thường xuyên cờ bạc, không lo lắng gì cho gia đình, vợ chồng đã ly thân từ năm 2015 đến nay, nên tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài. Nay Nguyễn Thị P yêu cầu được ly hôn với Nguyễn Thành T; Về con chung có 04 (bốn) người con chung là Nguyễn Thanh T sinh ngày 16/11/1989, Nguyễn Thái T sinh ngày 28/01/1995, Nguyễn Thanh Tr sinh ngày 29/5/1996, Nguyễn Thy T sinh ngày 08/7/2012. Đối với Nguyễn Thanh T sinh ngày 16/11/1989, Nguyễn Thái T sinh ngày 28/01/1995, Nguyễn Thanh Tr sinh ngày 29/5/1996 đã trưởng thành nên Nguyễn Thị P không yêu cầu Tòa án giải quyết. Riêng đối với Nguyễn Thy T sinh ngày 08/7/2012 Nguyễn Thị P yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi con và không yêu cầu Nguyễn Thanh T cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn Nguyễn Thành T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như để tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt, không có lý do. Nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với Nguyễn Thành T theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn Nguyễn Thị P cũng đồng ý xét xử vắng mặt bị đơn Nguyễn Thành T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hôn nhân: Nguyên đơn Nguyễn Thị P và bị đơn Nguyễn Thành T kết hôn tháng 9/1987 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Minh Bắc, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang (Nay là xã An Minh Bắc, huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang) ngày 18/01/1988 theo quy định, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình chung sống có nhiều mâu thuẩn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không hợp nhau, Nguyễn Thành T không chung thủy lại có người phụ nữ khác bên ngoài, Nguyễn Thành T thường xuyên cờ bạc, không lo lắng gì cho gia đình, vợ chồng đã ly thân từ năm 2015 đến nay, mặc dù, Tòa án đã kiên trì động viên, thuyết phục đoàn tụ nhưng Nguyễn Thị P vẫn cương quyết xin ly hôn với Nguyễn Thành T, tình trạng hôn nhân của Nguyễn Thị P và Nguyễn Thành T cũng được chứng minh bằng hành động cụ thể là Nguyễn Thành T không chấp hành các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải của Tòa án để được hòa giải đoàn tụ, bỏ mặc không ý kiến gì, đồng thời cố ý không chấp hành pháp luật, xét thấy mâu thuẫn của Nguyễn Thị P và Nguyễn Thành T là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được, cho nên việc Nguyễn Thị P xin ly hôn là thỏa mãn các điều kiện theo Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của Nguyễn Thị P với Nguyễn Thành T là có căn cứ.
[2] Về con chung: Nguyễn Thị P và Nguyễn Thành T có 04 (bốn) người con chung tên là Nguyễn Thanh T, sinh ngày 16/11/1989; Nguyễn Thái T, sinh ngày 28/01/1995; Nguyễn Thanh Tr, sinh ngày 29/5/1996; Nguyễn Thy T, sinh ngày 08/7/2012.
Do Nguyễn Thanh T sinh ngày 16/11/1989, Nguyễn Thái T sinh ngày 28/01/1995, Nguyễn Thanh Tr sinh ngày 29/5/1996 đã trưởng thành, do đó Nguyễn Thị P không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt thành vấn đề xem xét giải quyết.
Riêng đối với Nguyễn Thy T, sinh ngày 08/7/2012 đang do Nguyễn Thị P nuôi dưỡng và Nguyễn Thị P đã chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục Nguyễn Thy T chu đáo và phát triển bình thường, mặc khác Nguyễn Thy T đã nộp tờ tường trình có nguyện vọng sống với mẹ Nguyễn Thị P, không yêu cầu cha Nguyễn Thành T cấp dưỡng, nên xét yêu cầu nuôi con của Nguyễn Thị P là có căn cứ, phù hợp với Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về cấp dưỡng: Nguyễn Thành T không T tiếp nuôi con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình, nhưng Nguyễn Thị P không yêu cầu Nguyễn Thành T cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt thành vấn đề xem xét, giải quyết.
[4] Về tài sản và nợ chung: Nguyễn Thị P không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt thành vấn đề xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí: Nguyễn Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân là có căn cứ, phù hợp với khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
[6]. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn và nhân gia đình; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Nguyễn Thị P được ly hôn với Nguyễn Thành T.
2. Về con chung và cấp dưỡng: Nguyễn Thị P được quyền nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Thy T, sinh ngày 08/7/2012. Nguyễn Thị P không yêu cầu Nguyễn Thành T cấp dưỡng nuôi con.
Nguyễn Thị P cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh Nguyễn Thành T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về án phí và tạm ứng án phí: Nguyễn Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số: 0008653, ngày 17/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp (Nguyễn Thị P đã nộp xong).
4. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (18/7/2019). Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa ngày 18/7/2019 thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND huyện Lai Vung; - CCTHADS huyện Lai Vung; - UBND xã An Minh Bắc, huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang; - Đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Thị Cẩm Nhung |