- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Buộc bà Giang Ái K thanh toán cho Ngân hàng TMCP Việt Nam T số tiền 75.
- Căn cứ chính? Điều 116 Bộ luật Dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 119 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TIÊN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2019/DS-ST Ngày: 31-12-2019 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mạc Văn Hên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Thanh Học.
2. Ông Nguyễn Văn Út.
- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Vũ Đức - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tiên tham gia phiên toà: Bà Lâm Thanh Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 98/2019/TLST- DS ngày 22 tháng 7 năm 2019 về tranh chấp về hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2019/QĐXXST-DS, ngày 06 tháng 12 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam T. Ngưởi đại diện theo pháp luật ông Ngô Chí D, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị. Địa chỉ: số 89, đường L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Thành T, chức vụ: Phó Giám đốc Khối pháp chế và kiểm soát. Địa chỉ: số 89, đường L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội, theo văn bản ủy quyền số 11/2018/UQ-HĐQT ngày 02/3/2018.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn H, chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ. Địa chỉ: số 96, đường C, phường N, quận M, thành phố Hồ Chí Minh, theo văn bản ủy quyền số 16387/2019/UQ-PGĐK ngày 21/5/2019, có mặt.
2. Bị đơn: Bà Giang Ái K, sinh năm 1970. Địa chỉ: Tổ 1, khu phố N, phường P, thành phố H, tỉnh Kiên Giang, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 21/5/2019 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Lê Văn H trình bày: Vào ngày 28/10/2017, Ngân hàng TMCP Việt Nam T và bà Giang Ái K đã ký kết hợp đồng tín dụng giấy đăng ký kiêm hợp đồng tín dụng cho vay tiêu dùng cá nhân, vay kinh doanh cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, phát hành và sử dụng thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử số 20171028-0002334 để vay số tiền 42.000.000 đồng, thời hạn vay là 24 tháng, mục đích vay tiêu dùng, lãi suất trong hạn là 42%/năm, quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; trả nợ theo phương thức dư nợ giảm dần, trả dần lãi và gốc hàng tháng.
Từ ngày 06/12/2017 đến ngày 07/10/2019 bà Giang Ái K đã đóng cho Ngân hàng số tiền 13.481.001 đồng, trong đó gốc là 3.151.042 đồng và tiền lãi là 10.329.959 đồng thì không đóng nữa, đã vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng đã ký kết. Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, nhắc nhở yêu cầu bà K thanh toán nợ nhưng đến nay vẫn không thanh toán, tính đến ngày 31/12/2019 bà K còn nợ ngân hàng số tiền:
- Nợ gốc:
38.848.958 đồng.
- Lãi:
36.454.896 đồng.
Tổng cộng: 75.303.854 đồng.
Nay, đại diện Ngân hàng yêu cầu bà Giang Ái K phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền 75.303.854 đồng và lãi suất phát sinh tính sau ngày 31/12/2019 theo hợp đồng tín dụng cho đến khi trả dứt nợ. Ngân hàng không yêu cầu chồng bà K có trách nhiệm liên đới cùng với bà K trả số nợ trên.
Bị đơn bà Giang Ái K trình bày: Vào ngày 28/10/2017, bà và Ngân hàng TMCP Việt Nam T có ký kết hợp đồng tín dụng giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay tiêu dùng cá nhân, vay kinh doanh cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, phát hành và sử dụng thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử số 20171028-0002334 để vay số tiền 42.000.000 đồng, thời hạn vay là 24 tháng, mục đích vay là tiêu dùng, không có tài sản bảo đảm, lãi suất là 42%/năm, quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; trả nợ theo phương thức dư nợ giảm dần, trả dần lãi và gốc hàng tháng. Nay bà thừa nhận còn nợ Ngân hàng số tiền 75.303.854 đồng, trong đó tiền gốc 38.848.958 đồng và tiền lãi là 36.454.896 đồng. Do hoàn cảnh gia đình khó khăn bà xin được trả gốc và xin được miễn trả lãi.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tiên phát biểu về việc tuân theo tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, đương sự đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự và quá trình tranh luận tại phiên tòa. Xét thấy, có căn cứ để chấp nhận theo yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử chấp toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Giang Ái K thanh toán cho Ngân hàng số tiền 75.303.854 đồng (trong đó tiền gốc 38.848.958 đồng, tiền lãi là 36.454.896 đồng) và lãi phát sinh sau ngày 31/12/2019. Về án phí buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, lời trình bày của bị đơn và căn cứ Luật tổ chức tín dụng, vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng tín dụng. Trong vụ án này bị đơn bà Giang Ái K cư trú tại khu phố N, phường P, thành phố H, tỉnh Kiên Giang nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.
Xét hợp đồng tín dụng số 20171028 - 0002334 ngày 28/10/2017 được ký kết giữa bên cho vay là Ngân hàng TMCP Việt Nam T và bên vay là bà Giang Ái K đã tuân thủ các quy định tại Điều 116, Điều 117 và Điều 119 của Bộ luật dân sự nên hợp đồng tín dụng trên là hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên và các bên phải có trách nhiệm thực hiện các thỏa thuận đã cam kết trong hợp đồng. Xét thấy, Ngân hàng đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của bên cho vay là giải ngân cho bà K đủ số tiền vay nhưng sau khi nhận tiền bà K không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo điều khoản đã cam kết và đã vi phạm hợp đồng. Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Giang Ái K thanh toán số tiền 75.303.854 đồng và lãi suất phát sinh sau ngày 31/12/2019 là hoàn toàn có căn cứ.
Về án phí sơ thẩm: Buộc bà Giang Ái K phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 90, Điều 91 của Luật các tổ chức Tín dụng;
Căn cứ vào các Điều 116, Điều 117, Điều 119, Điều 463, Điều 465 và Điều 466 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Buộc bà Giang Ái K thanh toán cho Ngân hàng TMCP Việt Nam T số tiền 75.303.854 đồng (trong đó nợ gốc 38.848.958 đồng, nợ lãi 36.454.896 đồng) và tiền lãi phát sinh sau ngày 31/12/2019.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Giang Ái K còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Giang Ái K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.765.193đ (Ba triệu bảy trăm sáu mươi lăm nghìn một trăm chín mươi ba đồng).
Trả lại cho Ngân hàng TMCP Việt Nam T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.516.184đ (Một triệu năm trăm mười sáu nghìn một trăm tám mươi bốn đồng) theo biên lai thu số 0004750 ngày 22 tháng 7 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND thành phố Hà Tiên; - Chi cục THADS thành phố Hà Tiên; - Các đương sự; - Lưu: hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Mạc Văn Hên |