- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tống Xuân L - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN! THÀNH!PHỐ!NAM!ĐỊNH! TỈNH!NAM!ĐỊNH! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2018/HSST Ngày: 07-3-2018 |
NHÂN!DANH
NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!NAM!ĐỊNH!TỈNH!NAM!ĐỊNH!
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diện
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Triệu Văn Giản
Bà Trịnh Thị Lan
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Ngô Đức Sang - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định , xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 53/2018/TLST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2018/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Tống Xuân L, sinh năm 1988 tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: xóm A xã T, huyện N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: C, sinh năm 1959 và bà: N (đã chết); có vợ và 01 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 19-6-2017, Công an phường Cửa Nam thành phố Nam Định xử lý hành chính hình thức cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; bị bắt, tạm giữ ngày 05-01-2018, chuyển tạm giam ngày 11-01-2018; có mặt.
Người làm chứng: Ông H, anh T (không triệu tập tham gia phiên tòa; vắng mặt).
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 05-01-2018, tại khu vực bờ đê sông Đ, thôn L, xã P, thành phố N, tổ công tác Công an phường Văn Miếu, thành phố Nam Định kiểm tra hành chính đối với Tống Xuân L, thu giữ trong túi áo khoác bên trái đang mặc của L 01 gói nhỏ giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng, L khai là Heroine, tiến hành thu giữ, niêm phong theo quy định; đưa L cùng người làm chứng về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Bản kết luận giám định số 24/GĐKTHS ngày 09-01-2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng được niêm phong trưng cầu giám định là chất ma túy, loại chất ma túy là Heroine, có trọng lượng (khối lượng) là 0,146 (không phẩy một trăm bốn mươi sáu) gam.
Tại cơ quan điều tra, Tống Xuân L khai: Khoảng 6 giờ ngày 05-01-2018, L đi xe ôm từ nhà đến khu vực giáp bờ đê sông Đ, thôn L, xã P, thành phố N mua của nam thanh niên không rõ lai lịch 01 gói Heroine với giá 50.000 đồng cất vào túi áo khoác bên trái đang mặc đi về để sử dụng thì bị Công an bắt giữ, thu giữ và niêm phong gói ma túy.
Bản cáo trạng số 65/CT-VKS ngày 09-02-2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Tống Xuân L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên toà, bị cáo Tống Xuân L khai: Khoảng 6 giờ ngày 05-01-2018, bị cáo đi xe ôm từ nhà đến khu vực giáp bờ đê sông Đ, thôn L, xã P, thành phố N mua của nam thanh niên không rõ lai lịch 01 gói ma túy mục đích để sử dụng với giá 50.000 đồng cất vào túi áo khoác bên trái đi về thì bị phát hiện, thu giữ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo từ 21 tháng đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; không áp dụng hình phạt bổ sung; áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Nam Định, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng, kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ căn cứ kết luận: Ngày 05-01-2018, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là Heroine có khối lượng 0,146 (không phẩy một trăm bốn mươi sáu) gam với mục đích để sử dụng. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, biết ma túy là chất do Nhà nước độc quyền quản lý nhưng vì mục đích cá nhân, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định là có căn cứ.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự an toàn xã hội, góp phần làm gia tăng tệ nạn ma túy, là nguyên nhân dẫn tới nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã được xóa tiền sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng: Số ma túy đã thu giữ là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
[6] Về án phí: Bị cáo Tống Xuân L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT!ĐỊNH:!
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
1. Tuyên bố: Bị cáo Tống Xuân L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Tống Xuân L 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 05-01-2018.
2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy có trong phong bì niêm phong số 21/GĐKTHS (chi tiết vật chứng ghi trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 09-02-2018).
3. Án phí: Bị cáo Tống Xuân L phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Tống Xuân L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận:!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!! - Bị cáo; - TAND tỉnh Nam Định ; - VKSND tp. Nam Định (02 bản); - Công an tp. Nam Định ; ! - Chi cục THADS tp. Nam Định ; - Lưu hồ sơ vụ án + VP. ! ! | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM! THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA! ! ! ! Nguyễn!Thị!Diện! |