vanban.org

Bản án 37/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 20/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/4/2018. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 106 BLTTHS; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quang T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2018/HSST
Ngày: 20/6/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N - TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Minh.

Bà Dương Thị Huyền.

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Quang Trung, Thư ký - Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N - tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Duy, Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2018, tại Nhà văn hóa xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 38/2018/HSST ngày 28 tháng 5 năm 2018; Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2018/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và Tên: Nguyễn Quang T, (Tên gọi khác: Không).

Sinh năm 1971, tại N - Ninh Bình; Trú tại: thôn 2 H, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ văn hoá: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn T và bà Đinh Thị D; Vợ: Đinh Thị H; Con: có 02 con đã trưởng thành;

Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Bị cáo bị bắt tạm giữ kể từ ngày 06/04/2018 chuyển tạm giam ngày 08/04/2018. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình, (Có mặt).

Người làm chứng:

1. Ông Bùi Văn C, sinh năm 1962; Trú tại: phố Đ, thị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình, (Vắng mặt).

2. Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1959; Trú tại: phố N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình, (Vắng mặt).

3. Chị Đinh Thị H, sinh năm 1970; Trú tại: thôn 2 H, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình, (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ ngày 06/04/2018 T đi bộ từ nhà đến địa phận thị trấn N, huyện N để tìm mua Heroine về sử dụng. Khi đến khu vực phố B, thị trấn N, huyện N; Nguyễn Quang T gặp và hỏi một người nam giới đang đi bộ trên đường (T không biết tên, tuổi, địa chỉ) “Anh có ma túy không bán cho em một trăm nghìn đồng” - Ý hỏi mua 100.000đ Heroine, người nam giới đồng ý nói “Có”. Nguyễn Quang T lấy trong người ra 100.000đ đưa cho người nam giới, người nam giới cầm tiền và đưa lại cho T 01 gói Heroine được gói ngoài bằng giấy tờ lịch màu xanh - trắng, Nguyễn Quang T cầm gói Heroine bỏ vào túi áo ngực bên trái của mình đi tìm nơi vắng người để sử dụng. Khoảng 07 giờ 45 phút cùng ngày, khi T đang đi bộ trên đoạn đường thuộc phố B, thị trấn N thì gặp Tổ công tác Công an huyện N phối hợp với Công an thị trấn N đang tiến hành nhiệm vụ tuần tra. Do sợ bị phát hiện cất giấu Heroine trên người nên Nguyễn Quang T lấy tay móc trong túi áo gói Heroine vừa mua được định ném xuống mặt đường thì bị Tổ công tác phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trên tay trái của T 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy tờ lịch màu xanh - trắng, kiểm tra bên trong thấy có chứa chất bột dạng cục mầu trắng, T khai nhận đó là gói Heroine của T vừa mua về nhằm mục đích sử dụng. Ngoài ra Tổ công tác còn thu giữ của Nguyễn Quang T 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO màu xám đen gắn sim số 01697.....71 và số tiền 150.000đ.

Cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng chứa trong 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy tờ lịch màu xanh - trắng thu giữ của Nguyễn Quang T có khối lượng 0,10 gam ký hiệu M để gửi trưng cầu giám định về khối lượng và loại chất ma túy.

Tại bản kết luận giám định số 63/KLGĐ-PC54-MT ngày 07/04/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: “Mẫu chất bột dạng cục mầu trắng ký hiệu M gửi giám định có khối lượng 0,1130 gam, là chất ma túy, loại Heroine”.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Quang T đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định số 63/KLGĐ-PC54-MT ngày 07/04/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Quang T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Tại bản cáo trạng số 35/CT-VKSNQ- HS ngày 28/5/2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố bị cáo Nguyễn Quang T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự (BLHS).

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; xử phạt Nguyễn Quang T từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/4/2018. Về hình phạt bổ sung bị cáo mua ma túy để sử dụng không nhằm mục đích vụ lợi do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS); Tịch thu tiêu hủy 0,0808 gam Heroine và toàn bộ vỏ bao gói trong gói niêm phong ban đầu, tất cả được niêm phong trong một phong bì ghi số 63/2018/GĐMT và 01 phong bì niêm phong các vỏ gói ban đầu. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Quang T 01 điện thoại di động nhãn hiệu oppo vỏ mầu xám đen kèm sim thuê bao 01697.....71 và số tiền 150.000đ.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là khách quan phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra (BL: 70-73; 75-90), phù hợp với lời khai người làm chứng ông Bùi Văn C (BL: 42-46); ông Nguyễn Văn Q (BL: 47-51); chị Đinh Thị H (BL: 52-56) các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL: 27-30); Biên bản niêm phong vật chứng đã thu giữ (BL: 31); kết luận giám định số 63/KLGĐ-PC54-MT ngày 07/04/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình (BL: 37). Như vậy đã có đủ căn cứ kết luận khoảng 07 giờ 45 phút ngày 06/4/2018 tại khu vực phố B, trị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình, Nguyễn Quang T có hành vi cất giữ trái phép 01 gói ma túy loại Heroine có khối lượng 0,1130 gam nhằm mục đích sử dụng bị phát hiện bắt giữ (Heroine có số thứ tự 20 thuộc bảng danh mục I - Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính Phủ quy định danh mục chất ma túy và tiền chất).

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về việc cất giữ chất ma tuý; Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự đồng thời biết rất rõ tác hại của ma túy và việc mua bán, tàng trữ, sử dụng ma tuý bị nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Đối chiếu với quy định của pháp luật hình sự, thấy: hành vi, tội danh và điều khoản áp dụng tại bản cáo trạng, lời luận tội, các chứng cứ buộc tội bị cáo như Kiểm sát viên trình bày tại phiên toà là có căn cứ. Do đó, hành vi tàng trữ trái phép 0,1130 gam ma túy loại Heroine nhằm mục đích sử dụng của bị cáo Nguyễn Quang T đã phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khân khai báo, ăn năn hối cải; Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt, tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tạo điều kiện cho bị cáo cai nghiện, học tập, cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Bị cáo tàng trữ ma tuý để sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích vụ lợi vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 0,0808 gam Heroine còn lại và toàn bộ vỏ bao gói trong gói niêm phong ban đầu, tất cả được niêm phong trong một phong bì ghi số 63/2018/GĐMT do cơ quan giám định đã hoàn lại, là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại Điều 47 BLHS và khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

- Đối với 01 phong bì niêm phong các vỏ gói ban đầu không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại Điều 47 BLHS và khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ mầu xám đen kèm sim thuê bao 01697.....71 và số tiền 150.000đ thu giữ của bị cáo xác định là tài sản hợp pháp của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo cần trả lại cho bị cáo theo khoản 3 Điều 106 BLTTHS.

các vấn đề khác:

- Về nguồn gốc ma túy: Nguyễn Quang T khai mua của một người đàn ông không biết tên tuổi địa chỉ ở khu vực Phố B, thị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không đủ căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/4/2018.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 106 BLTTHS;

- Tịch thu tiêu huỷ: 02 phong bì thư niêm phong.

- Trả lại cho Nguyễn Quang T 01 điện thoại kèm sim thuê bao 01697.....71 và số tiền 150.000đ.

(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/5/2018 giữa Cơ quan CSĐT công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện N).

(Số tiền 150.000đ hiện đang ở tài khoản Chi cục Thi hành án dân sự huyện N tại kho bạc Nhà nước huyện N, theo uỷ nhiệm chi số 44 lập ngày 29/5/2018).

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 các điều 135, 136 của BLTTHS; áp dụng Điều 21, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui định về mức thu án phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Quang T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ