vanban.org

Bản án 37/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên Tuyên án 26/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Cầm Nhân T phạm tội: " Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Cầm Nhân T 26 ( hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21 tháng 8 năm 2018. Vật chứng: Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a Khoản 2; khoản 3 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiê… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cầm Nhân T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Cầm Nhân T phạm tội: " Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƢỜNG ẢNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 37/2018/HSST
Ngày: 26/11/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG ẢNG - TỈNH ĐIỆN BIÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân

Các Hội thẩm:

1. Ông Lầu A Vàng.

2. Ông Lƣờng Văn Hƣởng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Mạnh Huy, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Duy Thanh, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 36/2018/HSST, ngày 09 tháng 11 năm 2018, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2018/QĐXXST – HS ngày 14 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

Cầm Nhân T. Tên gọi khác: Không, sinh năm: 1972. Tại: huyện M, tỉnh Điện Biên; ĐKHKTT: Bản H, thị trấn M, huyện M, tỉnh Điện Biên; Cư trú tại: Bản H, thị trấn M, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Không; Dân tộc: Thái; con ông: Cầm Nhân T1, sinh năm 1939 và bà Quàng Thị N, sinh năm 1942; Bị cáo có vợ: Cầm Thị P, sinh năm 1974 và 02 người con, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 1993; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; tạm giam giữ từ ngày 21/8/2018 cho đến ngày xét xử; Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì hành vi phạm tội của Cầm Nhân T được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 10 phút ngày 21 tháng 8 năm 2018, tại nhà ở của mình thuộc Bản H, thị trấn M, huyện M, Cầm Nhân T đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tại Cơ quan điều tra, Cầm Nhân T khai nhận: Khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 20/8/2018 sau khi ăn cơm xong T một mình đi bộ ra ngoài cổng nhà mình thuộc Bản H, thị trấn M, huyện M thì nhìn thấy một người đàn ôngdân tộc Mông khoảng 25 tuổi mà Cầm Nhân T không biết tên, địa chỉ ở đâu đi bộ từ hướng Trường giáo dục thường xuyên huyện M về phía T. Qua nói chuyện, T đã hỏi và mua được của người đàn ông dân tộc Mông 01 gói nhỏ heroine được gói trong mảnh túi ni lông màu hồng với giá 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng), mục đích về sử dụng. Sau khi mua được heroine, T lấy mảnh giấy bạc màu vàng của vỏ bao thuốc lá gói số heroine vừa mua được lại và cho vào túi quần đằng sau, bên phải đang mặc rồi đi về nhà ngủ không nói cho ai biết. Đến khoảng 11 giờ 10 phút ngày 21 tháng 8 năm 2018 do lên con nghiện T lấy gói heroine ra định sử dụng thì thấy Tổ công tác Công an huyện Mường Ảng vào nhà kiểm tra, do sợ bị bắt T đã cất gói heroine vào túi quần đằng sau. Qua kiểm tra, Tổ Công tác đã phát hiện gói heroin tôi giấu trong túi quần đằng sau, bên phải đang mặc nên T đã lấy gói heroin ra giao nộp cho Tổ công tác.

Tại biên bản niêm phong vật chứng hồi 16 giờ 00 phút ngày 21/8/2018 thì vật chứng thu giữ của Cầm Nhân T là 01 gói chất bột màu trắng là Heroine.

Tại biên bản mở niêm phong xác định trọng lượng ngày 21/8/2018 thì 01 gói Heroine có trọng lượng là: 0,82 gam.

Tại bản kết luận giám định số 753/GĐ – PC 09, ngày 28/8/2018 của cơ quan giám định kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên, kết luận: 0,82 gam là Heroine: Loại Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy có số thứ tự: 20, danh mục I, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013. Không hoàn lại mẫu sau khi giám định.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Cáo trạng số 29/CT - VKSMA, ngày 09/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đã truy tố bị cáo Cầm Nhân T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật đã áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Cầm Nhân T từ 22 tháng đến 24 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a Khoản 2; khoản 3 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 0,78g (không phẩy bảy tám gam) Heroine, là vật chứng còn lại của vụ án. Trả lại cho bị cáo số tiền 250.000đ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) không liên quan đến vụ án.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo sống ở xã có điều kiện đặc biệt khó khăn, đề nghị miễn án phí HSST cho bị cáo Cầm Nhân T.

Lời nói sau cùng, Cầm Nhân T nhận phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trong quá trình điều tra, truy tố thấy rằng: Các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự nên trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến khiếu nại về quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Cầm Nhân T công nhận: Hồi 11 giờ 10 phút ngày 21 tháng 8 năm 2018, tại nhà ở của mình thuộc Bản H, thị trấn M, huyện M, Cầm Nhân T đã tàng trữ 0,82 gam heroin mục đích để sử dụng.

Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các lời khai của bị cáo và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với biên bản xác định khối lượng ngày 21/8/2018 và kết luận giám định số 753/GĐ – PC 09, ngày 28/8/2018 của cơ quan giám định kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: 0,82 gam là Heroine, cũng như biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 11 giờ 20 phút ngày 21/8/2018 đối với Cầm Nhân T.

Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Cầm Nhân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào những quy định của Nhà nước trong việc quản lý, sử dụng các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần xử lý nghiêm minh nhằm răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại huyện M, tỉnh Điện Biên, không được đi học. Đến năm 1990 kết hôn với chị Cầm Thị P và có với nhau 02 người con. Năm 2006 bị cáo Cầm Nhân T đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xét xử 07 năm tù về tội “Mua bán sử dụng trái phép chất ma túy” ; đến năm 2013 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên xét xử 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đã được xóa án tích. Bị cáo là một người chồng, người cha trụ cột trong gia đình nhưng do thiếu ý thức rèn luyện, tu dưỡng đạo đức để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên đã bất chấp pháp luật, đi vào con đường phạm tội. Bản thân bị cáo là người nghiện chất ma túy nên có nhân thân không tốt; Bởi vậy Hội đồng xét xử cần đưa ra mức án thật nghiêm khắc, để cải tạo giáo dục bị cáo và cũng là cơ hội để bị cáo cai nghiện ma túy; tuy nhiên, tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình. Nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nên Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống, xã hội một thời gian để bị cáo sửa chữa tội lỗi của mình, sau này trở thành công dân có ích cho xã hội. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại điều 52 BLHS.

Ngoài hình phạt chính, qua xác minh thì bị cáo thực sự khó khăn thuộc diện cận nghèo, không có điều kiện thi hành hình phạt bổ sung bằng tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên, địa chỉ ở đâu vào ngày 21/8/2018. Quá trình điều tra không có cơ sở để làm rõ đối tượng nên HĐXX không đặt vấn đề xem xét.

Về vật chứng: Hội đồng xét xử thấy rằng: Số tiền 250.000đ thu giữ của bị cáo bị cáo không liên quan đến việc phạm tội trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo Cầm Nhân T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Nhưng bị cáo sống ở xã đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Cầm Nhân T phạm tội: " Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Cầm Nhân T 26 ( hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21 tháng 8 năm 2018.

2. Vật chứng: Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a Khoản 2; khoản 3 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 0,78g (không phẩy bảy tám gam) Heroine, là vật chứng còn lại của vụ án. Trả lại cho bị cáo số tiền 250.000đ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) không liên quan đến vụ án (Chi Cục thi hành án dân sự huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/11/2018).

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Cầm Nhân T.

4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 26/11/2018).

Cỡ chữ